nhớ về Thạch Thất


NHỚ VỀ THẠCH THẤT QUÊ TA        

Không phải ngẫu nhiên mà địa danh Thạch Thất trở nên nổi tiếng nó phải hàm chứa trong lòng một bề dày văn hóa đủ để con cháu tự hào mỗi khi nhắc đến và nhớ thương day dứt mỗi khi đi xa. Đúng vậy Thạch Thất đã trở thành nỗi nhớ cố hương của 34 hộ dân rứt ruột ra đi xây dựng cuộc sống mới tại Lâm Đồng. Từ đó hình ảnh Thạch Thất thiêng liêng và là niềm hy vọng. Bởi theo cách hiểu " Thạch Thất là ngôi nhà chứa sách" thì không có gì cao quý hơn. Nơi đó hẳn phải là chốn " địa linh nhân kiệt" sinh dưỡng nhiều nhân tài giúp nước cứu dân. Cụ Trạng Bùng là một người như thế cụ sống trong lòng bao thế hệ cháu con và có lẽ mãi mãi là niềm tự hào của Thạch Thất. Khi trở lại thăm nhà thờ cụ nhà thơ Nguyễn Gia Tình viết:

Chúng con đi mở cõi phía trời Nam

Về lại xứ Đoài thắp hương dâng cụ.

Bồi hồi quá một chiều xuân nắng tỏa

Cụ Trạng của dân mình mang tên quê hương

( Thăm nhà thờ cụ Trạng Bùng)

Đây là bốn câu thơ hay trong bài thơ thật cảm động về cố hương Thạch Thất. Một người con hiếu thảo của đất tổ khi về quê luôn nhớ thắp một nén tâm hương. Động thái đó ngoài sự kính lễ ra còn là bổn phận làm gương cho cháu con. Cụ Trạng đã trở thành của dân trở thành quê hương. Điều khiến người đọc thấm thía bởi chính quê hương là người và người là quê hương. Quê hương ấy có " mắt em vời vợi buồn Tây Phương" ( Q. Dũng) ấy là tiếng chuông man mác:

Nhớ về Thạch Thất quê ta

Chiều hôm man mác chuông chùa Tây Phương

( Nhớ Thạch Thất)

Tôi chợt nghĩ tiếng chuông Hàn Sơn Tự của Trương Kế vấn vương chuông chùa Tây Phương hẳn phải có người rơi lệ! Thì đây hồn thơ Nguyễn Đăng Chấn vừa đủ chứa trong giọt lệ ấy:

Tôi về thăm lại ngõ xưa

Xôn xao kỷ niệm gió mưa một thời

Thương bèo dạt tiếc mây trôi

Tôi về tìm lại cái tôi thuở nào!

(Ngõ xưa)

Cái ngõ xóm Đồng Cả thôn Bùng ấy có một mỗi tình đẹp như trang thơ Nguyễn Bính khiến người đi day rứt bao kỷ niệm khó phai. Và cái tôi chắc gì đã tìm được nhưng điều ấy nói lên quê hương là tình yêu " là chùm khế ngọt" gây hưng phấn trong vị giác cuộc đời. Rồi 30 năm sau ông viết:

Con tàu đã trở thành phế tích

34 chủ hộ bây giờ kẻ còn người mất

Kẻ ra đi đã nằm yên trong lòng đất

Người còn đây tóc bạc lưng còng.

( Người đi tìm đất)

Vâng sinh tử là quy luật muôn đời nhưng nghe đau nhói tâm can mỗi khi nhắc tới. Con tàu đi chung nay đã thành phế tích. Người xưa nay đã già vì thế mới có tập thơ - văn này là để dành cho lớp hậu thế biết tìm về cội nguồn thâm ân biết tạ ơn đất Lâm Hà - Lâm Đồng cưu mang đùm bọc và sẻ chia. Nhà thơ đã lập ngôn là có ý tứ sâu xa cháu con hãy tìm trong " ngôi nhà chứa sách" ấy sẽ gặp " người xưa". Đó là tất cả hiện tại và tương lai. Nhà thơ Phùng Văn Thu lại bàn bạc một quá khứ vàng son:

Gió lất phất mưa bay chiều đã ngã

Lũ mục đồng hối hả nhặt hoàng hôn

Những chú cò chốc chốc vụt bay luôn

Làm tan biến nét buồn trong quạnh quẽ

( Mưa bụi)

Đấy là khổ thơ trong bài thơ Mưa Bụi khiến người đọc chạnh nghĩ tới cơn mưa bụi của đời người. Chỉ thoáng chốc mà trăm năm và chú mục đồng là tác giả đó hối hả " nhặt hoàng hôn". Từ " nhặt" khá đắc dự báo những hoàng hôn sẽ mất tích và " nét buồn" của quê hương sẽ không còn nữa. Đối với làng quê Việt là một mất mát lớn lao. Vì thế mà thơ găm vào lòng người đọc một trang ký ức. Còn hiện tại thì sao? Nhà thơ Nguyễn Văn Khánh là bậc cao niên là người tiền trạm kể rằng:

Đêm rằm suy nghĩ thấp cao

Có dân có Đảng lẽ nào riêng ta

Ngẫm rồi quyết định làm nhà!

( Vào quê mới)

Tôi xin dừng lại ở câu lục này mà ngẫm cùng cụ rằng ngày xưa nơi đây:

Sương mai rừng núi âm u

Hoẵng kêu dốc đá vượn đu đầu cành

Chỉ bây nhiêu thôi đủ cho ta thấy cuộc sống mới muôn vàn gian khổ khó khăn. Nhiều người đã nản lòng bỏ về quê hoặc đi xứ khác nhưng người bám trụ được vì có ánh sáng của Đảng dẫn đường. Đây quả là một chọn lựa có ý nghĩa chính trị. Dân đã thật sự tin vào Đảng tin vào sự đúng đắn của chủ chương mang tầm chiến lược. Câu thơ mộc mạc đơn sơ nhưng khi đã viết là ngầm ý tin vào những cán bộ tiền trạm như Nguyễn Duy Dương Vũ Hoa Mỹ Nguyễn Văn Hoàn Bùi Văn Hạt Phan Hữu Giản Nguyễn Gia Tình Nguyễn Đăng Chấn vv...và thành quả của nó sẽ là:

Đất tỏa màu xanh nhờ có Đảng

Vừng hồng chói sáng tỉnh như mơ

(Tỉnh như mơ - Cầu Văn Khoát)

Thơ Cấn Văn Khoát khẳng định một lần nữa Đảng là ánh sáng xuyên suốt cả thực và mơ! Ánh sáng ấy làm nên màu xanh trên đất này:

Cửa trước cà phê xanh bát ngát

Sân sau ngô lúa chín bời bời

...

Sắm chiếc xe con thăm bạn hữu

Mong người quê cũ ghé qua chơi

( Thợ cày phố núi - Kiều Công Luận)

Bốn câu thơ nói lên thành quả lao động của " Người đi mở đất" đồng thời cũng là tấm lòng hào phóng của đất Tây Nguyên ưu đãi người có công. Quả vậy ngày nay người Thạch Thất đi lập nghiệp đã giàu lên trông thấy. Những điều nói trong bốn câu thơ trên là hiện thực minh chứng cho lòng tin vào Đảng thân yêu! Và không những có của ăn của để mà từ ấy " ngôi nhà chứa sách" đã mở ra những cây bút tâm huyết biết lắng vào hồn người bản địa thành thơ:

Đã lắng vào tôi tiếng đàn Tơrưng

Đã thấm vào tôi tiếng chiêng tiếng trống

Trâu kéo gỗ mõ khua chiều động

Nai hoẵng tác bên đồi đêm rộng đến mênh mông...

( Nỗi nhớ màu xanh - Đào Văn Lượng)

Đó là những câu thơ tài hoa đặc tả linh hồn của đất rừng K Ho thuở đi mở đất. Còn gì đẹp hơn một tâm hồn nghệ sĩ biết đón nhận tinh hoa của xứ người hòa quyện với bản sắc " Ngàn năm văn vật" làm nên một không gian văn hóa cho đất mới sinh sôi. Nhà thơ Đào Văn Lượng là người đã nhìn thấy " Từ cái bàn nghiêng" sự giàu đẹp của quê mới Lâm Hà:

Hôm nào anh cũng nhìn thấy bên cái bàn nghiêng

Em chăm chú với những nét chì ngang dọc

Cái compa quay tròn cái ê ke căng góc

Để khoảng đất trời trên giấy cứ xôn xao

( Từ cái bàn nghiêng)

Quả vậy con cháu người Thạch Thất lớn lên tài cao học rộng thành bác sĩ kỹ sư xây dựng Lâm Hà là điều tất yếu! Thơ đã chuyên chở niềm riêng của ông vào " khoảng trời trên giấy xôn xao" đẹp tươi biết mấy. Đây đúng là cõi Phật một nét tâm linh của người Việt Nam:

Vượt đèo " bách tám" một trời tây

Lâm Hà Phật ngự nguyện cây mây

Diều căng vui trẻ già chăm đạo

Địa linh hội tụ sức xuân đầy

(Tựa Tân Hà - Nguyễn Duy Phác )

Thật là một cảnh thanh bình non nước thành tiên đầy đủ cả về tinh thần lẫn vật chất. Vô hình trung Đảng đã lo cho dân bình ổn về mọi mặt. Đạo Phật bắt rễ xuống vùng đất này cũng là một truyền thống tốt đẹp của cha ông xưa. Bởi thế trong " ngôi nhà chứa sách" không thể thiếu sách kinh của Đức Phật. Ông Nguyễn Duy Phác chỉ bằng bốn câu thơ đã làm sống lại nét hương khói kinh kỳ. Có người nói thơ là điều gì đó khó hiểu tôi cho là không thơ là đời sống quá khứ hiện tại và tương lai mới là điều kỳ diệu! Ví như những giọt ca trùđi vào thơ Nguyên Phương một cách tài tình khi anh đem tâm hồn mình ra hứng lấy nó:

Hứng giạt ca trù ray rứt mắt ai đưa

Lòng vương vấn câu thơ viết dở

Tiếng đàn bay nhịp phách say ai nỡ

Chát chát tom tom tom chát mê hồn

( Nghe ca trù nơi đất Trạng)

Thi ảnh thơ đẹp và xao xuyến. Bởi ca trù là hiện thân của nét đẹp văn hóa và Hà Nội ngàn năm. Những danh sĩ như Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ đã từng làm cho ca trù long lanh đến độ mất ngủ. Ngày nay người con đất Trạng xa quê trở về được một lần tự vỡ mình ra giữa " tiếng đàn bay" giữa " nhịp phách say" để nghe hồn nước non thổn thức. Những bội âm " chat chat tom tom" cứ vang rung mãi trong anh như sự bừng dậy của hơi men:

"Cứ rung mãi một tâm tình lạ lạ/Quen quen

Lưu luyến làng Bùng nhịp phách lên men..."

( Nghe ca trù nơi đất Trạng)

Tôi nghĩ thứ men ấy sẽ ám ảnh suốt đời thơ Nguyên Phương bởi anh vừa nhận ra " chút tâm tình là lạ lại quen quen..." như từ kiếp này như từ kiếp trước. Có phải vì thế mà những âm thanh nguồn cội lại được hứng bởi tâm hồn nhảy cảm hòa vào niềm dau ca nương:

Có người thiếu phụ xa quê

Cõng theo một mảnh trăng thề lên non

( Tìm về - Trương Thị Tươi)

Cũng là thi ảnh xao xuyến ấy. Nhưng đẹp mà đau. Tiếng phách sên như vẫn còn đâu đây rung mãi? Và người đã ở lại trong ngôn ngữ thơ Hà Đức Ái:

Mây đang chảy về phương trời xa tít

Trăng ngược trôi về phía núi đang chờ

Người ở lại gắn tình thương với đất

Kết trái đơm hoa nên phố thành quê

( Quê mới)

Ý thơ chủ đạo đã rõ: " gắn tình thương với đất" cũng là ý của lãnh đạo muốn người di dân phải trở thành những cư dân chân chính yêu thương sẽ nở hoa hạnh phúc. Có như vậy mới xứng đáng được hậu thế nhớ ơn:

Đèo suối hoang vu thành gấm vóc

Cơ đồ hậu thế nhớ công lao

(Cảm tác Tân Hà - Nguyễn Duy Đô)

Tình cảm đó được thể hiện bằng tâm tình này:

Xa quê mới anh nằm đêm phát khóc

Nhớ Tân Hà - bãi Cháy khoảng trời riêng

( Về quê mới - Nguyễn Anh Đức)

Vâng khoảng trời riêng thơ mộng và đẹp tựa trong tranh. Nhà thơ Bùi Văn Hạt cũng là ngưới có công góp sức với quê hương mới trong những ngày đầu nên hình ảnh một Lán Tranh hoang dại được ông vẽ bằng thơ... và chỉ còn trong thơ mà thôi!

Cỏ tranh bát ngát lưng trời

Nai vàng ngơ ngác giữa đồi hoang sơ

( Tân Hà - Lán Tranh)

Còn đây là âm thanh giữa chợ mà nhà thơ Vương Hạnh ghi lại được bằng chiếc máy tâm hồn:

Ríu rít như chim em Thạch Thất

Ngọng nghịu tiếng kinh Mế già Tày

Lời Trung nghe xa như chim hót

Dịu dàng ngọt lịm giọng miền Tây

( Đi chợ Tân Hà)

Chợ ở quê mới là nơi trăm quê hợp lại sao có gì như cố hương:

Hẹn em đi nhớ! Anh chờ

Núi cao leo dốc đỏ hây má đào

Chợ trời là chốn thật cao

Gió nam nhẹ thổi nao nao tấm lòng.

( Chơi hội chùa Thầy - Nguyễn văn Đa)

Tôi hiểu chợ trong Hội Chùa Thầy là đi trong truyền thuyết nhưng cũng là ngọn gió thời thanh xuân ấy. Người Thạch Thất mang vào trong nầy để sống với kỷ niệm và để giúp đỡ yêu thương nhau:

Lúa ngô khoai sắn đủ đầy

Kết đoàn lành rách đêm ngày có nhau

( Tình người hương đất - Nguyễn Thị Lan)

Người Thạch Thất đoàn kết keo sơn như câu thơ bộc bạch của Nguyễn Thị Lan vừa có tình vừa đậm nét quê kiểng. Đơn mộc mà nao lòng! Ở đất mới còn có một dòng sông đẹp nếu không kể ra sẽ là một thiếu sót vì bên dòng sông ấy cuộc sống được bồi đắp xanh tươi:

Khói lam từng dải giăng mờ

Đạ Dâng với khúc đôi bờ dâu xanh

( Đến Lâm Hà - Lê Xuân Liễu)

Đôi bờ dâu xanh ấy là nghề nuôi tằm dệt lụa. Nghề cũ trên quê mới cũng góp phần làm nên tình yêu cuộc sống:

Nhà em ở phía sau đồi

Mẹ em dạy học mẹ tôi nuôi tằm

Ngày em theo bố sang thăm

Tôi đang mê mẩm xem tằm buông tơ

( Một chút vấn vương - Vũ Bá Chữ)

Thế đấy nghề nuôi tằm trong thơ là một công phu " buông tơ" được người quê Lụa gởi gắm qua niềm thương nỗi nhớ. Để rối " người con gái ấy trở thành cô giáo" thì được tôn vinh:

Vinh quang thay những thầy cô giáo

Biết hy sinh vì các em nhỏ vùng cao

( Cô giáo Vùng cao - Kim Môn)

Quả thật cô giáo cùng cao chịu nhiều thiệt thòi. Nhưng em đã biết hy sinh vì sự nghiệp cách mạng hàng ngày lấy thơ ca để bù đắp như Cố tác giả Văn Vần đã viết:

Em hát khúc tình ca

Để vơi dần nỗi nhớ

( Nơi ấy Tân Hà - Văn Vần)

Nhờ vậy mà trường học được đông vui:

Trẻ thơ ríu rít vào trường học

Ông lão rượu bầu - túi thơ say

( Quê mới - Nguyễn Văn Thuận)

Già trẻ - 2 góc của cuộc đời hòa quyện nên nét đẹp vùng cao. Rồi ngay mai đây trước ngả ba cuộc đời mỗi người một ngả nhưng lòng vẫn đau đáu một " cửa ngõ quê hương:

Đứng giữa ngã ba trới đất rộng dài hơn

Một kho báu tình yêu và tiếng hát

Tối hướng mắt nhìn bốn bề bát ngát

Ngả ba xòe bàn tay xới lới bạn bè

( Ngã ba Tân Hà - Nguyễn Thị Minh)

Tác giả Nguyễn Thị Minh đã viết một bài thơ hay đi vào lòng người xa xứ. Tôi nghĩ " ngôi nhà chứa sách" sẽ có tên những " người đi mở đất" để bức tranh cuộc đời thêm phần sống động và " đời đời rạng rỡ vần thơ" như nhà thơ Trần Mỹ đã viết tổng kết:

Cùng con cháu tô cho tranh đẹp

Để đời đời rạng rỡ vần thơ

( Rạng rỡ vần thơ - Trần Mỳ"

Vâng có thể nói đây là những vần thơ rạng rỡ hào khí Thăng Long mà người xa quê đã nằm đêm đắn đót rung động bật lên tiếng của trái tim. Có thể thơ văn còn mộc mạc còn hạn chế về nghệ thuật nhưng tâm tình đối với cố hương đối với quê mới là tròn đầy như vầng trăng rằm. Người Thạch Thất xa quê đang viết lên một trang sử mới bằng việc làm cụ thể bằng tâm hồn rộng mở yêu thương và đều nhằm vào một mục đích lớn là lưu truyền cho con cháu mai sau. Đó là hy vọng là ý nghĩa của tập thơ - văn này!

                                                                 Nguyễn Thánh Ngã

AAspisseTUsjup

Far up Blood Persuade - Hypertension

Poids est comment robuste votre sang pousse contre les parois de vos arteres lorsque votre coeur determination pompe le sang. Arteres sont les tubes qui transportent prendre offre sang loin de votre coeur. Chaque temps votre coeur bat, il pompe le sang tout au long vos arteres a la flanerie de votre corps. https://www.cialispascherfr24.com/cialis-belgique-aucune-prescription/

Nguyễn Thánh Ngã

trả lời

Xin cảm ơn Anh Đoàn Xuân Toàn tôi không phải người Thạch thất mà chỉ là bạn của những người TT xa quê thôi viết với tâm tình của họ thật là một thú vị đã được anh đồng cảm. Mong gặp lại Anh. chúc vui anh !

Đào Phan Toàn

Tình cờ tôi vào trang của bạn! Thật thú vị và cảm động trước những tâm tình của người con xa quê...Cảm ơn bạn đã cho tôi những cảm xúc khó quên! Chúc bạn vui vẻ và hẹn ngày tái ngộ!

Hoài Khánh

HK sang bóc tem đây...

http://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/c9a4cf557ae448f79571bb321fae8201-Lo%20hoa%20hong.jpg/Lo%20hoa%20hong.jpg