giới thiệu bài thuốc hay

By Nguyễn Thánh Ngã

Chữa Sỏi Mật BằngTrái Sung

 alt

Trái Sung Chữa Tan Sỏi Mật Điều Mà Ít Ai Biết.Sung là loài cây sống trải rộng khắp nơi trên trái đất. Sung gần gũi với dân quê hiền hòa chất phát từ đó có những câu hát câu ca dao truyền từ đời này qua đời khác…

 Đói lòng ăn nửa trái sung

 Chồng một thì lấy chồng chung thì đừng...

 Theo Y học cổ truyền quả sung có vị ngọt tính bình có công dụng kiện

 tỳ ích vị nhuận phế lợi hầu nhuận tràng thông tiện...

  Quả sung dân dã quê mùa nhưng ít ai biết sung có công dụng trị nhiều thứ bệnh.  Khi quý vị vào trang google nhập từ TRÁI SUNG sẽ được nhiều thông tin phong phú nói về trái sung. Trái sung tên khoa học là Ficus carica họ dâu tằm Moraceael. Trái sung giàu Phenol axit béo omega3 và omega6 tốt cho tim mạch. Chất xơ trái sung có thể giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư đặc biệt

 ung thư gan mật ruột kết và ung thư vú. Vi chất ổn định đường huyết ổn định huyết áp…

  Đó là những thông tin trong sách báo trên mạng Internet nhưng ở vùng miền Trung vùng sâu vùng xa hẻo lánh của quê hương tôi người ta dùng để chữa hiệu quả một chứng bệnh đó là bệnh  SỎI MẬT . Nghe qua khó tin nhưng là việc thật. Bỡi thế người Trung Hoa thường bảo “ người Việt Nam chết trên cây thuốc” là vậy.

  Vào thời điểm những năm sau 1975 đời sống kinh tế và thuốc men rất là khó khăn khổ cực. đối với mọi người dân nhất là vùng sâu vùng xa cho nên mọi người rất sợ đau ốm. Câu chuyện xảy ra vào khoảng năm 1976 tại huyện Phù Cát thuộc Tỉnh Bình Định quê hương tôi.

 Hôm đó vào khoảng xế chiều trên bến xe lam chưa đủ khách nên xe chưa chạy trên chiếc xe lam chỉ có 3 người : một bà già ngồi nhai trầu bỏm bẻm miệng đỏ hoe nhìn cô gái ( khoảng 20 tuổi ) ốm yếu da mặt vàng sạm với hơi thở yếu ớt nằm ngoặc nghẽo trong vòng tay người mẹ.

  Bà già trầu cất tiếng hỏi:

 - Chị ơi con bé bị bệnh gì mà trông tội nghiệp quá vậy ?

 - Dạ cháu nó bị sỏi mật nằm bệnh viện Đa khoa Quy Nhơn cả tháng nay bác sĩ định mổ nhưng xét nghiệm rồi nói cháu nó máu loãng

 không đông nên không thể mổ nếu mổ sẽ không cầm được máu sẽ chết thôi thì đưa cháu về cho ăn được gì ăn rồi cháu sẽ chết !

 Nói xong 2 hàng nước mắt lăn dài trên đôi má gầy còm của người mẹ.

  Nghe xong bà già tay cầm miếng trầu đang nhai trong miệng vứt xuống đất nghe cái “bộp” nói một giọng chắc mẩm :

 - Wééé...ét……Chết chóc cái gì mà chết bịnh này mà mổ xẻ cái gì chứ ! Chị nghe lời tôi về nhà hái một rổ trái sung xanh xắc mỏng phơi khô sao vàng cho vào nồi đổ ngập nước nấu cạn còn nửa nồi cho cháu uống dần sẽ hết bịnh.

 - Nghe bà già trầu nói thế người mẹ mừng quá quên cả cám ơn về đến nhà trời cũng đã tối bà con lối xóm nghe con bé về ai nấy đến thăm nhìn thân hình tiều tụy mê man mà lắc đầu thương xót.

 Khi đưa cô con gái vào nằm trên giường mặc ai thăm thì cứ đến thăm riêng bà đốt đèn ra bờ sông soi tìm hái đầy một rổ trái sung.

 Về đến nhà mọi người đến thăm ai nấy đã về hết chỉ còn con gái bà còn nằm bất động trên giường. Mặc kệ mày !

 Bà cặm cụi xắt mỏng từng trái sung đêm không nắng không phơi được hơn nữa thời giờ cấp bách bà chất lửa đốt bắt chảo lên rang vàng đến khô

 giòn từng lát sung sau đó cho vào nồi nấu đến khi còn lại 1 bát lớn thì trời cũng đã khuya lắm rồi.

 - Dậy uống thuốc nè con

 - Ôi ! Con mệt quá…

 - Ráng uống để sống với người ta đi con ơi không thì con sẽ chết!  Nửa tỉnh nửa mê nghe nói chết cô con gái cũng sợ ráng ngồi dậy uống hết bát thuốc.

 Thấy con uống xong là lúc bà cũng mệt mỏi lắm nằm ngủ thiếp lúc nào không hay.

 alt

 ………..

 

 -Má ơi con đói bụng quá !

 Đang nằm ngủ ngon giấc bà mẹ giật mình ngồi dậy;

 - Hã? Con nói gì ?

 - Con đói bụng quá có gì ăn không ?

 Trời đất con nhỏ nó hồi dương rồi sao ? Nằm bệnh viện cả tháng trời nó có chịu ăn uống gì đâu nó chỉ sống bằng thuốc bằng dịch chuyền thôi mà sao nay về nhà nó lại đói bụng đòi ăn ? Vậy là nó hồi dương và sắp chết thật rồi. Bà thầm nghĩ vậy.

 - Có ăn cũng để má nấu cơm nóng đã chứ. Còn cơm nguội ăn gì được .

 - Kệ má ơi cho con ăn đi con đói lắm rồi.

 Trời ! Bà còn sợ dữ nữa nhất định con nhỏ hồi dương rồi chắc rồi nó cũng chết thôi cứ cho nó ăn đại cơm nguội nếu nó có chết cũng là chết no. Nghĩ vậy bà bèn lấy cơm nguội với mắm cho nó ăn.

 Nhìn nó ăn ngon lành mà bà thấy buồn thương cho đứa con gái tội nghiệp rồi đây nó sẽ không còn trên cõi đời này không còn trong căn nhà này nữa…

  Sau hơn tháng trời xa nhà nằm bệnh viện sáng nay nó đi khắp xóm khắp làng gặp nhà ai nó cũng ghé vào nói cười vui vẻ làm ai cũng lo cũng sợ. Cứ nghĩ cô gái này chết rồi mà hồi dương lại đi thăm mọi người rồi về cũng sẽ chết luôn…( dân quê hay quan miệm vậy mà ! )

 Đến chiều nhìn đứa con gái xem ra vẫn khỏe hơn bà nghĩ bụng : vậy là trái sung đã cứu sống con mình rồi. Bà vui mừng đi tìm hái thêm mấy rổ nữa về làm cho nó uống…

  Thưa quý vị trải qua 34 35 năm nay cô con gái đó nay đã trở thành bà nội bà ngoại rồi. Đây là câu chuyện thật 100% ở cùng làng quê tôi.

 Thằng em út tôi ( sinh năm 1977) vào năm 1995 làm ăn ở Sài Gòn cũng bị chứng sỏi mật nằm bệnh viện Bình dân (đã lên lịch mổ) tối hôm đó tôi có lên thăm thấy mắt mặt và toàn thân là một màu vàng sạm ( nói xin lỗi còn xấu hơn da người mới chết ) nhưng sáng hôm sau đã thấy nó vát mặt về nhà.

 -Trời ơi sao mày không nằm để bác sĩ người ta mổ ?

 Thì thằng em tôi nó nó nói: “Thôi em về uống trái sung sợ mổ lắm”.

 Và thưa quý vị quả thật cho đến hôm nay ( tháng 4-2011) trải qua 16 năm

 nó vẫn lao động bình thường sỏi cũng tiêu đâu mất.

  Trải qua 12 năm tôi có tham gia chữa bệnh từ thiện ở các phòng khám của các chùa. Vào năm 2003 tôi đang châm cứu cho một bà bệnh nhân bà ấy bảo:

 -Thầy ơi châm giùm tôi chỗ cạnh sườn này. Vừa nói bà vừa lấy ngón tay chỉ  vào.Tôi hỏi

 - Sao lại phải châm chỗ này ?

 - Tôi bị sỏi mật còn 1 tháng nữa là tôi phải đi mổ đó.Giờ

 châm cho đỡ đau thôi.

  Bà còn nói –“bác sĩ cho biết giá mổ xong hoàn tấc là 30 triệu đó”.

 Tôi hỏi :

 -Vậy ai lo cho bà ?

 - Tôi có thằng con làm giám đốc sẽ lo cho tôi về tiền bạc.

 Nghe vậy tôi nói nữa đùa nửa thật:

 - Vậy nếu tôi chữa cho bà đến khi tan hết sỏi khỏi mổ bà cho tôi bao nhiêu ? Thật tình những lương y chúng tôi phần đông ai cũng nghèo nhưng vì yêu thích nghề nên ăn cơm nhà đi làm từ thiện miễn phí giúp cho những bệnh thỉnh thoảng cũng gặp được những người gia đình khá giả họ cũng có bồi dưỡng cho chúng tôi ít nhiều có tiền uống café với anh em nay gặp bà bệnh nhân này nói có con làm giám đốc vậy cũng mừng.

 Bà ấy nói : Nếu thầy chữa tôi hết bệnh khỏi mổ tôi tạ thầy 10 triệu nhưng mà…thầy chữa hết không ?

 - Tôi là người lớn là một lương y không thể nói đùa.

 Nghe vậy bà ấy vui mừng 2 bên thỏa thuận bằng miệng với nhau và hứa ngày mai đến gặp tôi lấy thuốc.

 Tôi mướn người đi tìm hái trái sung về sao tẩm chế biến thỉnh thoảng hết thuốc bà thường đến gặp tôi để lấy về uống liên tục như thế

 thời gian khoảng 1 tháng rồi sau đó bà bặt tăm luôn không thấy đến nữa  mà tôi thì quên hỏi số điện thoại nhà bà. Đến chừng 6 tháng sau bà đến chùa gặp lại bà tôi rất vui và hỏi :

 - Lâu quá không gặp bà bà khỏe không ?

 - Khỏe !

 - Vậy sỏi mật bà hết chưa ? Có đi bác sĩ mổ không ?

 Bà đáp :

 - À hết rồi hết rồi thôi đâu có đi bác sĩ chi nữa.

 Tôi hỏi :

 - Vậy chứ còn bà hứa sau khi hết bệnh cho tôi 10 triệu bà tính sao ?

 Bà cười giả lả : Các thầy có cái tâm đến đây làm từ thiện mà nhắc đến tiền bạc sao ?

 - Trời đất ! Bà nói vậy thôi tôi chịu thua bà luôn.

 Từ đó về sau gặp bà tôi cũng không nhắc đến chuyện đó nữa.

  “Làm người thầy thuốc rất vinh hạnh nhưng cũng lắm phũ phàng” là vậy.

 Đây là chuyện có thật trong đời làm thuốc của tôi bạn bè đồng nghiệp làm chung với tôi biết chuyện ai cũng phì cười.

  Là một người Phật tử tin sâu vào Phật Pháp một lương y tuy có đủ bằng cấp chứng chỉ hành nghề nhưng xưa nay phần nhiều làm ở các chùa tiếp xúc đủ loại bịnh tuy ít ai biết đến tôi nhưng tôi cũng có vài bí quyết kinh nghiệm nhỏ người ta bảo “ Thầy dở cũng đỡ xóm làng” ấy mà. Nay tuổi cũng đã xế chiều trường chay đạm bạc niệm Phật phát nguyện vãng sanh không vì danh lợi muốn được phổ biến chia sẻ cùng Chư Đạo hữu một vài kinh nghiệm nhỏ.

 Nói thế chứ cũng tùy theo cơ địa của từng mỗi người nhưng những phương tôi chia sẻ từ “cây nhà lá vườn” bằng trái hoa củ quả… uống vào nếu vô thưởng thì cũng vô phạt. .

 Khi quý vị gặp bệnh này hãy làm bằng cái tâm ( miễn phí ) sau khi thấy hiệu quả cũng xin được chia sẻ lại niềm vui đó đến với tôi tôi sẽ tiếp tục phổ biến những phương khác nữa bằng những câu chuyện như trên.

 

 Thuốc không phân là thuốc mắc hay thuốc rẻ Thuốc nào trị lành bệnh là thuốc hay ! Pháp Phật không phân biệt Pháp cao hay Pháp thấp Pháp nào hạp căn cơ cứu cánh là Pháp đó hay !

 

Lương Y  Phan Văn Sang

 

 

More...

hoa cà phê và hoa lyly

By Nguyễn Thánh Ngã

hinh caphe
hoa cà phê

hinh caphe
hoa lyly da lạt

More...

thơ cho valentine 2011

By Nguyễn Thánh Ngã

 

VALENTINE NỒNG CHÁY



Ngày tình yêu không yêu ai

Ngày tình yêu không tặng ai

là một ngày cô lẻ...

Anh tìm một đóa hồng

Anh tìm một làn môi

nón nghiêng giấu nụ cười

người ta cậy cô bé búp bê

người ta cậy chú gấu bông

để trao tình...

Riêng anh cậy trái tim em

làm mai mối cho phút giây hồi hộp

phút giây nồng cháy...

Valentine thật thà

Valentine tin cậy

không thỏi chocolate nào sánh kịp

Hai trái tim ngọn lửa

dẫu còn đắng chát gần kề

nhưng không thể dập tắt...

                 Nguyễn Thánh Ngã

More...

thơ về trà

By Nguyễn Thánh Ngã

 

THIẾU PHỤ UỐNG TRÀ


Bức tường và tranh tĩnh vật

Thiếu phụ mặc áo choàng xanh

trên bàn một tách trà nóng

Hương thơm phun trào từ vòi ấm đất

Nàng gác chéo chân nơi vệt sáng

cửa sổ ưng ửng mặt nàng...

Áo choàng hiện lên những bông hoa ngoài rừng

Nàng đưa ngón tay nâng tách

cặp môi nàng mím nhẹ làn hương

Tách trà như màu mắt nàng

Xanh dịu và vàng nhạt

Nàng nhìn hồn trà bay lên


Mũi nàng cao cao

khiêm cung và ngạo mạn

nàng ngước nhìn ánh sáng của hoa sói

đang bật lên trong khứu giác

Ngoài đồi lá trà mùa xuân mới hái

Những đọt trà móc câu kéo nàng đứng dậy

Nàng uống từng ngụm không gian

Trong cổ họng

niềm hoan ca lan tỏa

giải vây cả nỗi cô đơn tinh khiết nhất!

                        * Nguyễn Thánh Ngã

More...

Chúc mừng NOEL

By Nguyễn Thánh Ngã




CHÚC MỪNG GIÁNG SINH 2010



                             NHỮNG THÁP NHÀ THỜ HÀ NỘI

    Về Hà Nội vào dịp ngàn năm Thăng Long tôi không bỏ lỡ cơ hội được ngằm những tháp nhà thờ và kiểu kiến trúc những ngôi nhà thờ Hà Nội. Được đi lễ cùng người bạn mới quen được thưởng thức các cung cách khác nhau của người Hà Nội nói chung.

   Và được làm người Hà Nội nghĩa là thâm nhập và bỗng thấy trong thoáng chốc một người từ phương Nam được hóa thân vào Hà Nội. Chỉ là để cảm nhận thứ cảm giác ngọt ngào và đầy hương vị của một lễ Misa quen thuộc nhưng lại vô cùng mới mẻ. Ấy là tiếng chuông nhà thờ trong một không khí lắng đọng. Ngôi nhà thờ nổi tiếng mà người bạn Hà Nội giới thiệu là Nhà thờ Lớn nằm giữa trung tâm thành phồ. Bạn nói nơi đây vào khoảng thế kỷ 11-12 ( thời Lý ) nền đất là nơi xây dựng tháp Báo Thiên của Kinh thành Thăng Long xưa. Trong mắt tôi hiện lên tòa nhà thờ vạm vỡ cổ kính và rêu phong. Chiếc đồng hồ lớn như dòng thời gian ngừng  dưới bệ thánh giá. Bạn kể nhà thờ được xây theo lối kiến trúc nhà thờ Đức Bà Paris. Tôi chợt nhớ đến tác phẩm " Thằng Gù nhà thờ Đức Bà " của văn hào Pháp Victor Hugo đọc đã lâu nay không còn nhớ rõ cốt truyện nhưng tự dưng thấy hứng thú về một sáng mùa thu ở Hà Nội đẹp đến lạ lùng. Có lẽ những người Pháp đến đây đã thấy Hà Nội tuyệt vời như thế nào khi có một bản sao Nhà thờ Đức Bà Paris trên đất Việt. Du khách nhìn ngắm rất đông. Và tôi lặng lẽ thu vào mắt mình một kiến trúc cổ kính mà lần đầu tiên được nhìn thấy ...


   Tiếp đến là Nhà thờ Cửa Bắc người bạn gái khoe đây là ngôi nhà thờ  tuyệt đẹp trong những ngôi nhà thờ đẹp nhất Hà Nội cho đến lúc này. Nhà thờ có lối thiết kế độc đáo tháp chuông lạ và không theo qui chuẩn truyền thống châu Âu. Nghe nói là do một Linh Mục người Pháp vừa là Kiến trúc sư ra tay xây dựng vào khoảng thập niên 30 của thế kỷ trước.

Từ phố Phan Đình Phùng bạn đưa xe đi khá xa đến ngõ Giáp Bát với nhà thờ Thịnh Liệt một địa danh nghe vừa hưng phấn vừa rã rời. Nhưng với ngôi nhà thờ sừng sững mạnh mẽ vươn lên trên nền trời xanh tôi thấy lòng phơi phới. Nghe nói đây là ngôi nhà thờ của gia tộc họ Bùi Làng Sét. Một dòng họ danh gia vọng tộc của xứ Bắc Hà nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước.

   Và địa chỉ cuối cùng là nhà thờ Sainte Marie. Đây là nữ tu viện Thánh Phao- Lô. Chúng tôi đứng ngắm và chỉ biết nũ tu viện này đã góp nhiều công sức vào việc từ thiện chuyên giúp đỡ người nghèo. Nghe bạn kể cũng thấy ấm lòng vì những việc làm tốt đời đẹp đạo của những người con Chúa biết phục vụ người nghèo khổ. Dĩ nhiên là còn những nhà thờ khác rất đẹp và nhiều phong cách kiến trúc khác nhau nữa như kiến trúc cổ điển tân cổ điển Pháp vv...Nhưng thời gian không cho phép tôi đành tạm biệt cuộc ngắm nhìn của mình cùng người bạn thân yêu. Và đâu đây một tà áo dài   đâu đây một chùm chuông trong sương sớm tôi lại mường tượng một không gian Hà Nội có những công trình kiến trúc vượt thời gian. Có lẽ là những tháp nhà thờ góp cho Hà Nội đẹp thêm...

                                                                    Hà Nội mùa thu 2010

                                                                           N.T.N

HÀ NỘI - NOEL
                    * Thương tặng Thanh Diêm

Bầu trời nghìn xưa mây trắng

Tháp chuông cao vút khong khen

Gió thổi hồ Gươm cờn cợn

Hà Nội mừng đón Noel...

Em đi lễ Nhà thờ Lớn

Cúi đầu bên tượng Đức Bà

Hang đá Chúa Hài đồng xuống

Lạ lùng một ngôi sao xa

Em đưa anh vào thánh lễ

Ngại ngùng làm dấu bên em

Thánh ca an lành em hát

Ấm lòng máng cỏ Bêlem...

Anh nghe lòng mình Hà Nội

Vô cùng đêm thánh lặng im

Anh nghe mùa đông Hà Nội

Thật gần trong mỗi trái tim !

                        Nguyễn Thánh Ngã

   
     
                

                                 

BÉ ĐI LỄ

Mùa đông về phố núi

Đem giá lạnh về qua

Cô bé chiều đi lễ

Tiếng chuông nhà thờ xa

Lại mùa Noel đến

Bé nghe lòng thương yêu

Chúa Hài đồng xinh quá

Sao nằm trong máng rêu...?

Có lẽ trong hang đá

Máng cỏ ấm lắm thôi

Bé biết đâu ngày ấy

Nhà trọ không còn nơi !

Giờ đi trên phố lạnh

Vẫn còn người thiếu ăn

Không như thời máng cỏ

Bên thềm một mảnh chăn !

Bé đem lòng thương xót

Nguyện cầu Chúa âu lo

Xin cho đêm bớt lạnh

Xin cho người ấm no...

          Nguyễn Thánh Ngã





More...

giới thiệu thơ tình cao nguyên

By Nguyễn Thánh Ngã

RA MẮT THƠ TÌNH CAO NGUYÊN

Vào 15h ngày 4/12/2010 tại trung tâm Thành phố Đà Lạt đã diễn ra buổi ra mắt Thơ tình Cao nguyên. Về dự có nhà thơ Lê Minh Quốc Đoàn Thạch Biền Mường Mán nhà văn Nguyễn Đông Thức và nhiều nhà thơ nhà văn của Tây Nguyên thuộc các tỉnh Lâm Đồng Đắc Lắc Kon Tum Gia Lai và Đắc Nông...

          Sau đây là một số hình ảnh của buổi ra mắt.

Nhà thơ Lê Minh Quốc giới thiệu chương trình

Nhà thơ Mường Mán đọc thơ

Phát sách và nhuận bút cho tác giả

Blogger Nhất Vương đọc thơ

Lê Kim Sơn và Lê Vi Thủy đến từ Gia Lai

mpk hạnh quy quốc vy ngã on vương

Liên hoan

Em ngồi làm thơ

(bài và ảnh LÊ CÔNG)

More...

thơ Halloween

By Nguyễn Thánh Ngã

 

HALLOWEEN CHO EM


Chán ngấy những thói quen mòn lỉn

Anh đưa em vào lễ giả trang

Xin làm gã Jack Hà Tiện (*)

Dán lá bùa sau chiếc mặt nạ tình yêu


Khi thành Jack Lồng Đèn

Anh dắt em đi vòng quanh bí đỏ

Nơi em thể hiện tình yêu

Bằng cách khoét mặt nạ chính mình vào đấy

Cho khoai tây cà rót rũ người...


Và chính anh nhận ra thiên đường ma quỷ

Trong tình yêu chúng ta


Halloween cho em

Halloween tình yêu

Khi thế giới tắt đèn để xua tan ma quỷ

Anh lại thắp trái tim mình thành lửa Halloween

Để đốt cháy những man trá lọc lừa

Và xua đuổi chính những định kiến của chúng ta

Ra ngoài mùa thu tuyệt đẹp...


Mùa những chiếc lá vàng cưới bầu trời xanh thẳm

Mùa châu Á tràn ngập Halloween

Anh đưa em vào niềm vui trẻ thơ

Giấu phía sau mặt nạ nỗi đắm say không thể đánh lừa ma quỷ


                                            Nguyễn Thánh Ngã

                                           (*) theo truyền thuyết của người Ái Nhĩ Lan Jack là gã hà tiện     
                                           đã lừa quỷ mua rượu cho mình uống còn gọi là Jack lồng đèn

More...

nguồn gốc lễ Halloween

By Nguyễn Thánh Ngã

  LỄ HALLOWEEN

Tháng 10 mùa thu trẻ em Mỹ đang háo hức chờ ngày lễ Halloween được coi như lễ nhi đồng taị nước này.

Đến tháng 10 khi cây lá ở miền đông bắc Hoa Kỳ đã ngã vàng người ta thấy ở khắp các thị trấn thành phố và vùng quê đều có những hình ảnh về ngày lễ Halloween. Hình người bù nhìn bằng rơm bằng vải nằm bên cạnh mấy chùm bắp khô bà phù thủy mũi nhọn hoắt mặc áo đen ôm cán chổi quả bí ngô còn gọi là bí rợ hay bí đỏ được tỉa theo hình mặt người cười toét miệng nhe mấy cái răng cửa khấp khểnh hình những con ma con dơi được dán lên cửa kính hay cửa sổ trước nhà. Bước vào các siêu thị các cửa hàng bách hóa bán đồ gia dụng và các tiệm thuốc tây không ai không thấy hàng núi kẹo đủ loại đủ kiểu đủ màu được bày bán cùng với các loại y phục để mặc hóa trang trong ngày này nào là mặt nạ quỷ nhe nanh ma cà rồng miệng bê bết máu cho đến những mặt nạ hay những bộ y phục tương đối hiền lành hơn rập theo các nhân vật trong những phim hoạt họa ăn khách v..v..

Lễ Halloweeen tại Hoa Kỳ được trẻ con đón mừng nồng nhiệt nhất nhưng không phải nó chỉ dành riêng cho các em. Trẻ con mừng vui được cha mẹ anh chị dẫn đi xin kẹo vào tối ngày 31 tháng 10 là điều dĩ nhiên nhưng những người lớn trong lứa tuổi từ 18 đến 24 vẫn thường hay mở tiệc hay đi dự dạ tiệc hóa trang vào đêm cuối cùng của tháng 10. Số người trong lứa tuổi từ 25 đến 44 thì dẫn con em đi xin kẹo hoặc ở nhà tỉa quả bí ngô thành hình mặt người cười người Mỹ gọi là Jack-O Lantern. Và hầu hết những người trên 45 tuổi thì ở nhà để phát kẹo khi trẻ con gõ cửa đến xin.

Nói chung Halloween là lễ được nhiều người trang hoàng và ăn mừng đứng vào hàng thứ nhì trong các lễ hội mùa đông. Họ tiêu tiền khá nhiều và trung bình trong nnhững năm trở lại đây các nhà bán lẻ đã thu về tổng cộng trên 40 triệu đô la cho toàn mùa lễ này. Riêng năm nay dự đoán sẽ có 55 8% dân Mỹ ăn mừng lễ và sẽ chi chừng 41 triệu 770 ngàn đô la cho lễ Halloween.

Nhưng tại sao ngày lễ Halloween lại rơi vào 31 tháng 10 và tại sao phải có những hình ảnh trang phục ma quái cho ngày Halloween?

Theo một trong những truyền thuyết bắt nguồn từ văn hóa của người Celt thời cổ Ái Nhĩ Lan thì 31 tháng 10 là lúc chính thức chấm dứt mùa hè chấm dứt mùa của sự sống dương gian. Chuyện kể rằng vào ngày này những hồn ma vất vưởng chết trong năm đó sẽ trở lại trần thế tìm một người nào đó mà nhập xác để còn được tồn tại sau khi chết. Thế nhưng người dương thế thì lại không muốn bị ma bắt hồn nên đến tối ngày 31 tháng 10 họ tắt đèn tắt bếp lửa để cho nhà cửa lạnh lẽo như cõi âm. Họ còn mặc quần áo giả trang cho lẫn lộn với đám ma quỷ và khua động khắp xóm làng để đuổi tà ma.

Thế còn còn quả bí ngô còn gọi là bí đỏ hay bí rợ tỉa theo hình mặt người cười toét miệng thì sao?

Tại Hoa Kỳ các bà nội trợ đã mang quả bí này ra khoét ruột tỉa hình mặt người trên đó từ hàng trăm năm nay. Cũng theo truyền thuyết của người Ái Nhĩ Lan thì xưa có một anh chàng biệt danh là Jack Hà Tiện một hôm anh chàng Jack này mời quỷ đi uống rượu. Nhưng Jack Hà Tiện vắt cổ chày ra nước lại không muốn trả tiền rượu nên chàng ta bèn dụ dỗ con quỷ hãy hóa phép tự biến thành thành đồng tiền để Jack hà tiện mua rượu cùng nhậu cho vui. Khi quỷ nghe bùi tai biến thành đồng tiền thì Jack nhặt ngay lấy bỏ vào túi áo trong đó có sẵn một lá bùa khiến quỷ không thể trở lại nguyên hình quỷ được nữa. Nhưng rồi sau Jack đã giải phóng cho quỷ với điều kiện là quỷ không được quấy nhiễu Jack trong suốt 1 năm và nếu Jack chết quỷ cũng không được thu linh hồn của Jack. Cho đến năm sau Jack lại đánh lừa được quỷ để quỷ leo lên cây cao hái quả. Trong lúc quỷ còn đương loay hoay trên cây thì Jack khắc ngay một là bùa vào thân cây thế là quỷ sợ không dám leo xuống cho đến khi quỷ hứa không được quấy nhiễu Jack thêm 10 năm nữa rồi Jack mới bóc chỗ vỏ cây có khắc lá bùa đi.

Chẳng bao lâu sau đó thì anh chàng Jack Hà Tiện qua đời. Hồn ma của Jack đến gõ cửa thiên đường nhưng thượng đế không nhận cho một kẻ tinh ranh láu cá như vậy lên cõi trời. Xuống địa ngục thì gặp quỷ bị lừa khi trước còn tức tối nên Jack muốn vào địa ngục cũng không xong. Tuy nhiên giữ lời hứa không bắt hồn Jack quỷ đuổi Jack đi và chỉ cho Jack một cục than hồng để mà dò dường trong đêm tối. Jack Hà Tiện bỏ cục than cháy đỏ vào trong một củ cải tròn khoét ruột làm đèn và từ đó cứ luẩn quẩn khắp cõi dương gian. Người Ái Nhĩ Lan gọi là Jack of the Lantern tức là Jack lồng đèn và sau biến thành Jack-O Lantern.

Người Ái Nhĩ Lan khoét ruột củ cải tròn hoặc củ khoai tây theo hình mặt người cười láu cá như vậy đem bày ở bệ cửa sổ hay gần cửa ra vào để xua đuổi những hồn ma vất vưởng như Jack Hà Tiện khỏi xâm nhập vào gia cư của họ. Khi những di dân từ Ái Nhĩ Lan và Anh quốc tới Hoa Kỳ họ thấy rằng quả bí đỏ tức bí ngô hay bí rợ một thổ sản đầy rẫy ở vùng đất mới là nguyên liệu thích hợp nhất để họ khoét ruột tỉa hình mặt anh chàng Jack-O Lantern.

Quả bí đỏ xưa nay vẫn tượng trưng cho sự phong phú của mùa màng miền bắc Mỹ được trồng rất nhiều tại Hoa Kỳ và hằng năm vào trước lễ Halloween mấy tuần các nông gia mở hội thi xem ai trồng được quả bí to nhất.

                                                 Phương Lan

More...

bài viết của MIÊN DI

By Nguyễn Thánh Ngã

 

Lục Bát Văn Công Hùng - "rơi ngang một giọt không tên"
Thứ tư 06.10.2010 07:28pm (GMT+7)

                                                                           

          Lục Bát - một thể thơ giản dị chân phương nhạc tính hiền từ màu thơ nâu sồng đất cát... Ấy vậy mà lạ cái mình mẩy mộc mạc ấy lại vừa vặn giao hòa với tất cả: từ tinh thần khâm nghiêm của Cổ đến táo bạo của Kim; từ dịu dàng lời ru đến tưng tửng U-Mặc (humour); từ mộc mạc ca dao đến hàn lâm minh triết; từ trữ tình ướt át đến nghịch ngợm trào phúng... Vừa tất! Thế mới lạ thế mới khiến mấy anh chàng "hậu hiện đại" đao to búa lớn phải nể vì. Thế mới khiến Cụ Bùi Giáng tay chống  gậy siêu việt trí miệng khề khà lời vô ngôn vẫn cứ thích ngã kềnh trong manh chiếu quê rộng ngang 6 - 8. Vì thế Lục bát sẽ vẫn sống mãi bất chấp mọi đổi thay như đại lượng bất định "Còn" trong câu thơ của cụ Bùi: "Người còn thì của hãy còn / Người không còn nữa thì còn cái chi".

        Đôi lần được ngồi chuyện trò cùng nhà thơ Văn Công Hùng trong câu chuyện thảng hoặc anh lại trầm ngâm kể về quê hương với một nỗi niềm đau đáu. Có lẽ với riêng anh "đi đến" cùng nghĩa với "tìm về". Cũng đúng thôi ai chẳng mang di tích tuổi thơ. Thật may mắn cho người nào khi trên đầu mây trắng bay mà vẫn còn đó bến đò cũ - để dừng chân hồi cố vẫn còn nguyên giậu dâm bụt xưa - để hoài niệm tựa đầu. Nhưng thường thì chẳng mấy ai được thế. Thời gian làm bạc phếch những kỷ niệm bê-tông hóa những khoảng sân đanh đáo. Quê hương trong tâm tưởng và quê hương sau bao mùa dâu bể mấy khi đợi nhau mấy khi còn cùng vẹn nguyên dáng vẻ. Để rồi như một lời than "chưa về Huế đã vội vàng ra đi". Để rồi bài thơ đầu tiên trong tập thơ "Lục bát Văn Công Hùng" được bắt đầu bằng một bài thơ đẫm màu thu hoài niệm có thể "mùa thu..." ấy đã xa lắm. Nhưng với anh vẫn "...như thể nắng vừa trôi qua".

        Văn Công Hùng trong thế giới Lục bát của riêng anh thường hay... "lơ ngơ" cái lơ ngơ lạc ra khỏi nhưng toan tính bon chen. Có lẽ lúc ấy con người ta mới tinh tường mới gặp được những vẻ đẹp thuần khiết trong những điều dung giản như một vạt hoa mua: 

"lơ ngơ gặp vạt hoa mua

tím thì thật tím nhưng chưa cũ ngày"

        Rồi trắc ẩn mà thương những lúc vẫn phải còn vất vả tít mù thân phận con người ta như "con chim sẻ tìm không thấy nhà":

"tít mù nam bắc tây đông

thương con chim sẻ tìm không thấy nhà"

         Đã "lơ ngơ" thì thường... không hợp lý ai lại "thì thôi bước xuống ruộng cà" mà lại "hái nhành sen trắng làm quà tiễn đưa"? Lạ thật! Sen thì ở ao sen mắc mớ chi mà lại ở... ruộng cà? Vô lý! Nhưng cũng bởi thấy vô lý nên mới đọc đi đọc lại rồi vỡ lẽ ra rằng: thế giới ước lệ của thi ca không phải là một không gian toán học - nơi ấy một cánh "hoa rơi" có thể làm "núi xẻ". Bởi thơ thuộc về tâm hồn mà tâm hồn thì có bao giờ màng đến... lý lẽ. Tác giả đã mượn hình tượng "ruộng cà" như một khái niệm về thế giới mộc mạc với những giá trị chân thật - rằng khi con người ta nhìn thấy những điều quí giá mà đơn giản thì nơi "ruộng cà" nhọc nhằn của đời sống sẽ hóa điền tâm nở những nhành sen trắng giác ngộ - một ẩn dụ bằng một ý niệm Phật học kín đáo.

        Trong bài "bến mê" người đọc cảm thấy - chỉ là cảm thấy thôi - một nỗi khắc khoải dương tính tác giả đã bàn về cơn khát dục tình rất mực tao nhân. Chỉ "ghẹo" nỗi khát của mình chỉ tả "bờ giai nhân" rất... phòng the - một Văn Công Hùng phong tình mà kín đáo:

"chiều nay có một cánh buồm

trôi vào xứ lạ ghẹo cành san hô

nghiêng tai gánh một hải hồ

lưu ly nở trắng hai bờ giai nhân

có nhành rong biển tần ngần

mắt ti hí nhắm mà lần bến mê"

        Tuy vậy những câu thơ cuối là có vẻ gì đó... tần ngần rằng vẫn muốn "gánh một hải hồ" vẫn như sức trai vâm "mắt ti hí nhắm mà lần bến mê". Nhưng có vẻ như vầng sung mãn ấy chỉ hướng về hoài niệm chỉ ở trong cái "ước gì" bất khả - như càn khôn lộn ngược: "Ước gì trời thấp đất cao":

"tai nghe vệt nắng sau hè

biết con chuồn tía thả bè từ tâm

tôi đem trăng thả vào rằm

thấy người thủa ấy đang nằm đếm sao

ước gì trời thấp đất cao

tôi cùng người ấy lên chào gốc đa..."

         Văn Công Hùng có cái tài lặn lội vào tâm tư người  khác bằng... thơ anh có những câu thơ như kiến cắn - nhói mà không nhức nhối. Dường như đọc thơ anh ai cũng thấy một chút chính mình trong ấy. Những khi mà con người ta "con người" nhất như lúc mượn thơ mà tợp rượu "nỗi buồn loãng cả cơn say". Nhiều lúc phăng phăng trên "chiến mã" bỗng  giật mình hãm phanh không phải vì đèn đỏ mà vì... chợt nhớ đến thơ anh: "có những lúc rồ ga như tuẫn tiết / dốc chạy lùi cơn gió vút sau lưng". Những điều đó đã là cá tính nên trong tập lục bát này không hiếm những câu thơ kiến cắn dạng ấy. Nhưng không "hừng hực"  nữa mà đầy vẻ trần tình:

"với tay thì đụng vươn vai

Duỗi mình lại gặp gió mài bóng trăng"

         Đầy tự sự:

                         "vén khuya

                          gặp tiếng mưa rào

                          nao nao nhớ cỏ chân mao lưng trời"

         Đầy chiêm nghiệm:

"không bèo bọt chưa đá vàng

Ngẫm đời như lũ dã tràng biển khơi"

         Thơ Văn Công Hùng giàu hình ảnh những hình ảnh rất đỗi đời thường. Nhưng cái khác biệt là anh biết tạo nên từng cặp biền ngẫu trạng thái: đậm và nhạt thực và mơ... Nếu làm họa sĩ hẳn rằng anh sẽ vẽ đẹp bởi cái cách tổ chức hình ảnh trong thơ anh chặt về bố cục - một bố cục có phông nền có điểm nhấn:

"hoa vông nở ướt lá gừng

Tôi mang xa lạ vào rừng hoang vu"

         Có gút thắt có gợi  mở...

"Chiều như lửa đốt lòng nhau

tượng mồ run rẩy về đâu kiếp người

...

                                                                hoang sơ

                                                                chiều rót tràn vai

                                                                ché và chiêng

                                                                và đầy vơi rượu cần

                                                                nằm đây một nắm xương tàn

                                                               đứng dậy tượng hát một ngàn lời yêu"

         Đôi khi cái khả năng họa tả ấy kết hợp với cá tính phong tình vốn dĩ làm người đọc có cái cảm giác đọc thơ anh như xem... tranh khỏa thân - một loại tranh khỏa thân ý niệm - mượn thiên nhiên để vẽ con người trên phông nền tưởng tượng:

"tôi đi về hướng thiên đàng

hình như con ốc vú nàng nhìn tôi

nhặt lên tia nắng mắt trời

gặp viên đá cuội với lời tịch nhiên"

       Anh vẽ bằng thơ hẳn rồi. Nhưng không tả thực cặn kẽ bao giờ - như phương cách của họa phái Ấn tượng: tổng quan được gói gọn - đầy đủ - nhanh không cần lê thê nhằm tạo ra hiệu ứng diễn mở hình ảnh trở thành đôi cánh trên vùng bay suy tưởng:

"khói đồng đốt giữa hư không

rơm vàng cột với lá vông mà buồn"

       Khả năng quan sát và sử dụng hình ảnh này đã giúp anh nhiều trong những bài thơ có nội dung khắc họa những nơi anh đã từng qua: " đò ngược phá tam giang" "ta về Đà lạt" "đêm Krông Pa" "lục bát côn đảo"... những bài thơ ngồn ngộn hình ảnh:

"ta thương một cánh hải đường

qua giông bão nở trắng vườn Phong lai

Ngũ điền bạc thuốc nghẹn khoai

xuyên chân cát bỏng đâm trồi phi lao

...

ta về sen nở từ lâu..."

 

         Có vẻ như một thói quen tiềm thức. Lục bát Văn Công Hùng vẫn phảng phất nét thanh nhã một thời của dòng thơ trữ tình lãng mạn: "gói chiều vào mảnh khăn tay / em đem nhan sắc dãi bày mênh mông". Nhưng chỉ đôi chỗ thôi rồi như sực nhớ anh lại quay về với cái tư chất của chính anh: tung tẩy... Tóm lại là trẻ nhưng nói theo ngôn ngữ hè phố là... "trẻ không đều": đang chân chất giọng trai làng khi ra vẻ "cầu trời phù hộ cho em / chờ khi cả gió đi buôn vịt giời" bỗng câu tiếp theo lại ngổ ngáo như một lãng tử phớt đời: "tôi ngồi đếm tuổi tôi chơi / đếm vu vơ đếm gọi mời bến mê" tiếp theo nữa lại là một dạng ngôn ngữ đương đại đầy chất kỹ thuật khi lắp thực tại hữu hình "em đi ngược" vào một thực tại trừu tượng "phía lời thề". Có lẽ nơi tiềm thức anh từng được lớn lên đã từng được hít thở trong không gian thơ trữ tình lãng mạn nhưng khuynh hướng cảm thụ và sáng tác đang chuyển dần về các thủ pháp của thơ đương đại. Nên tạo nên một phong thái "trẻ không đều" dễ thương ấy. Anh thoải mái đem những hình tượng dân dã "trộn" với cách ước lệ trừu tượng:

"hanh hao dế gọi đường mưa

Một vầng sương nhỏ lọt vừa kẽ tay"

         Rồi táo bạo - lấy những đơn vị hữu định  "một ly một chén một bình..." để "đong" những cái... rất mơ hồ:

"ta đong một chén bình minh

một ly nghiêng ngửa một bình hoàng hôn

em nâng một núi thẳm buồn

một sông sung sướng một nguồn ngất ngây..."

          Rồi là... nghịch ngầm:

"này em gió nội hương đồng

bờ sông cây cải đã ngồng lên dưa

bên chùa hoa táo gió đưa

nâu sồng xin chớ làm lơ câu chào

áo khăn mắc cỡ bờ rào

tình tang mô phật ta vào thắp hương

ước gì mắt ở sau lưng

để rồi ngộ cõi vô thường nhân duyên

...

tối nay đợi ở gốc đa

em cho ngồng cải để mà... muối dưa"

        Và còn cả... "giang hồ" nữa. Nhưng như một  kẻ du lãng đã về với cửa thiền định thỉnh thoảng ngó ra ô cửa bức tường lý trí nghiêm thâm để thấy chính mình bên trong cái "một tôi" khác - là mình nhưng hình như... không phải chính mình: "một mình tôi với một tôi một mình":

"ngày đi nghe tửng từng tưng

mây giang hồ thổi lưng chừng cõi duyên

ba mươi ngậm gió nhả thuyền

cánh buồm nhấn nhá một huyền xanh cao

lia ngang con mắt như chào

Ai đem sa mạc thả vào xanh non

...

Hình như có lúm đồng tiền chợt rơi"

 

        Anh đẩy vào thơ mình những từ đắt nghĩa: "mỏng" "khêu nỗi nhớ" "vắt"... Nhưng cùng lúc lại cố tình làm "rẻ" đi ở khía cạnh truyền tải thông tin bằng những từ mang ý nghĩa tương tự như liên từ - dẫn ý rất cụ thể như trong văn nói:  "vào - theo - đến - tận - đổ..." ngõ hầu dìu cảm hiểu của người đọc đến với tứ thơ - điều đó cho thơ anh có độ lan tỏa rộng ra đại chúng những đối tượng người đọc:

"tường vi thì mỏng vào chiều

em khêu nỗi nhớ theo liêu xiêu gầy

đã vắt đến kiệt bàn tay

đã mưa mưa đến tận ngày nước rong

đã từng khóc đổ cơn mong

đã thôi ngọn nến cháy trong đốt ngoài"

 

         Khoảng rỗng của nét khu biệt trong thơ Văn Công Hùng vừa đủ lớn để tạo ra một vùng nội suy sâu thẳm nhưng không quá rộng đến mức có thể làm tối nghĩa một câu thơ. Điều đó vừa thể hiện yếu tố kỹ thuật vừa thể hiện khả năng tiết chế cảm xúc - một khả năng chỉ có ở những con người đã trải nghiệm đã từng "giời đày sáng tuổi chìm tên" đã từng "u ơ hang đá mà quên chính mình". Để rồi lúc trầm mình trong thơ anh lượm trong cái túi vốn sống căng đầy ấy những triết lý nhân sinh đem bỏ vào Lục bát và dù vẫn làm "mờ"  nghĩa đi để có sức gợi suy nhưng vẫn khéo léo dừng lại ở mức độ bóng nghĩa còn ẩn hiện để thơ anh không đến mức quá khó hiểu:

"tay cầm cái khổng khồng không

hát cho một thủa trầu nồng vôi chua"

        Vì thế mà những câu thơ vẫn đẹp nhưng không bị mất đi độ sâu triết lý:

"lá rơi chẳng biết cành đau

nước trôi hòn sỏi nhuộm màu hớ hênh

mùa đi chân mây nổi nênh

một manh cỏ muộn xanh đành xanh thôi"

 

         Người ta gặp trong lục bát Văn Công Hùng rất nhiều kỷ niệm ở một ngày xưa kham khổ thủa mà đời sống còn nghèo nàn nhưng ấm áp: con đường dâm bụt mảnh sân đất thịt mái tranh sợi lạt nằm dưới bánh chưng má hồng răng đen... Những kỷ niệm gần gũi đến độ tưởng như có thể sờ nắn được ấy được anh dùng làm gạch đá để xây thơ - nhưng cái lạ là vôi vữa để ghép những viên gạch thô mộc ấy lại là những gì rất bảng hoảng lãng đãng: một tâm thế như "giờ đồng lên" một tâm cảnh như "cõi bùa mê" một ánh sáng tri giác lung linh như " cây nên thắp như là chiêm bao"... Vì thế mà thơ Văn Công Hùng như chông chênh giữa thực tại và mộng huyễn; giữa cõi đời hữu chấp và miền giác ngộ vô chấp; giữa lãng mạn trữ tình và nghênh ngao xổ toẹt; giữa đền đài miếu mạo cổ kính và khối hình lập thể hiện đại... Anh lựa chọn giữ lại những cái cũ linh diệu chỉ ở mức độ "ôn cố" và chủ động kiềm chế cái chất đương đại vừa vặn ở mức độ "tri tân". Cho nên khi  tôi viết bài trao đổi nhỏ này - dù thấy rõ mồn một màu thơ riêng chỉ có ở nét thơ của thi nhân họ Văn dù rất muốn đặt tên cho phong thể "Lục bát Văn Công Hùng". Nhưng rồi không thể gọi tên - chỉ còn biết níu vào một câu thơ của anh để mà tạm gọi: Lục Bát Văn Công Hùng - "rơi ngang một giọt không tên". Trong cách cảm hiểu hời hợt của cá nhân tôi - lục bát Văn Công Hùng là... một nàng Lục bát mung miêng - không tên như thể có tên lâu rồi.

Miên di

More...

bài viết của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến

By Nguyễn Thánh Ngã

 

Nguyễn Việt Chiến

Mai Văn Phấn với những bài thơ hướng đến một trường-thẩm-mỹ mới


Mới đây nhà thơ Mai Văn Phấn vừa gửi từ Hải Phòng lên Hà Nội cho tôi 2 tập thơ mới in của anh: "Hôm sau" (NXB Hội Nhà văn 7-2009) "và đột nhiên gió thổi" (NXB Văn học-quý III/2009). Tôi đọc liền một mạch hết 2 tập và điều cảm nhận đầu tiên là thú vị và ngạc nhiên. Thú vị là bởi cái giọng thơ nửa khôi hài nửa kể c
huyện theo kiểu thế sự hiện đại mà lại xót xa đau đáu trong tập thơ "Hôm sau" với nhiều bài thơ hay tới độ làm tôi phải "giật mình". Còn ngạc nhiên là bởi khúc tụng ca tình yêu của Mai Văn Phấn trong tập thơ "và đột nhiên gió thổi" cho thấy khí huyết thơ anh vẫn còn trẻ trung say đắm và tinh tế lắm. Cái đọng lại sau hai tập thơ mới này là một Mai Văn Phấn đã định hình một phong cách một giọng thơ hiện đại sau chặng đường quyết liệt cách tân và đổi mới trong nhiều năm qua.

Thời gian trước đây tôi cho rằng thơ hay (giống như một tấm gương phản chiếu) là loại thơ soi vào thấy mình thấy cuộc sống con người hiện lên sinh động với các chiều kích khác nhau ở trong đó còn thơ dở thì có soi vào mãi cũng không thấy gì. Còn thời gian gần đây tôi lại nhận ra rằng thơ hay là thứ thơ làm cho người ta phải kinh ngạc và thật sự rung động bởi một ý tưởng mới một suy tưởng mới một sức sống mới đang làm nên những dạng thức mới của ngôn ngữ thơ. Và bài thơ "Ghi ở Vạn lý trường thành" của Mai Văn Phấn là một trong những bài thơ hay khi nó mang trong mình một dạng thức mới của ngôn ngữ thơ: "Mây xếp trên vai từng tảng đá nặng/ nhòe mắt cát/ thở đầy ngực cát/ Vạn lý trường thành còn xây dở?/ Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ/ Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ/ đánh hộc máu mồm/ Khâm thử/ Ngước lên gặp một khuôn mặt bì bì/ Tay lạnh mắt chì giọng mỡ/ Mái Phong Hỏa Đài màu huyết dụ/ Hình thanh long đao dính máu đang kề cổ/ Còng lưng đẩy nắng đi/ Chồn chân đẩy gió đi/ Miễn sao gần được bông hoa/ Đang mởn mơ trong gió lớn/ Tâu Hoàng thượng/ thưa ngài/ báo cáo đồng chí/ Bỉ chức/ thảo dân/ em.../ Sẽ làm tròn bổn phận/ Đây là đỉnh trời/ hay đáy vực sâu/ chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát/ Mồ hôi du khách trên đá xám/ Nở thành hoa phù dung". Không còn nghi ngờ gì nữa đây là một trong những bài thơ hay nhất của Mai Văn Phấn từ hai tập thơ vừa xuất bản.

Trong số những nhà thơ sung sức hiện nay đang có những cách tân được dư luận chú ý phải kể tới Mai Văn Phấn. Theo tôi anh đã biết cách giữ được đặc thù của ngôn- ngữ -thơ trong chuyển động đổi mới của những con chữ. Đây chính là sự khác biệt giữa một số cây bút cách tân đã nhân danh cái mới để "lạ hoá" thơ đến mức phản -thơ với những tác giả có xu hướng tìm tòi nhằm nâng cao vẻ đẹp của ngôn- ngữ- thơ bằng những ý tưởng mới. Trong bài thơ "Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ" mở đầu cho tập thơ "Hôm sau" Mai Văn Phấn đã dựng một tứ thơ khá mới lạ theo cách kể chuyện pha chút "liêu trai" khá dí dỏm khôi hài: "Pha xong ấm trà/ quay ra/ ông khách không còn ở đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông mất đã bảy năm/ Nhầm lẫn (!)/ Nhà mình/ mọi sự đảo lộn/ Không nhớ bức chân dung hạ xuống bao giờ.../ Đâu rồi chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót?/ Bộ ấm chén giả cổ ai cho?/ Ghé sang hàng xóm/ thử hỏi mấy loại thực phẩm/ loại tăng giá/ loại còn giữ giá/ Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi./ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu mươi dựng đứng trước mặt/ chốc lại cúi gập".

Trong đoạn thơ trên cái hàm ý sâu xa mà nhà thơ muốn khơi gợi nằm chính trong sự xuất hiện "đáng ngờ" của một chân dung một nhân vật không còn tồn tại trong đời sống nhưng vẫn luôn lảng vảng ở xung quanh chúng ta như một ám ảnh bắt ta phải nghĩ tới. Diện mạo chân dung ấy rất có thể là của một ông khách hàng xóm mà cũng có thể còn là một chân dung ngộ nhận nào khác tùy theo sự liên tưởng của mỗi người.

Mai Văn Phấn nằm trong số ít các nhà thơ đã thành danh nhưng đang có những tìm tòi cách tân thơ đầy hào hứng và quả quyết. Khoảng hơn một thập niên trở lại đây anh và một số nhà thơ của thế hệ hậu chiến đã nổi bật lên như những cây bút tiềm tàng sức sáng tạo hướng về những cách tân thực sự mang lại cho thi ca một hơi thở mới một sức sống mới và một biến động mới làm lung lay những "nền tảng" cũ trong thơ trước đó. Trong bài thơ "Đúng vậy" của Mai Văn Phấn dưới đây bạn đọc có thể tìm thấy dưới những câu thơ kể chuyện bình dị như đời sống lại có một thông điệp khác của nhà thơ về thế giới này: "Lúc đi/ ông mặc áo len màu cổ vịt quần rộng đũng/ tóc cắt ngắn/ tay cầm sách/ ra gần cửa còn lẩm bẩm: sáng rồi tối..thối rồi thơm..bơm rồi xì..đi rồi ngã..vả rồi thương..ương rồi chín..nín rồi thét..kẹt rồi lơi..xơi rồi hóc..bóc rồi che..đe rồi chừa..đưa rồi quỵt..bịt rồi hở..lỡ rồi toi..moi rồi thấy../ chốt cửa gỗ/ kéo cửa sắt/ ông bấm năm chiếc khóa/ rồi ném chìa vào trong nhà/ Lật đống chăn nơi ông vẫn nằm/ thấy mẩu giấy với nét chữ nguyệch ngoạc "Ai tìm thấy tôi ở đâu gọi về số...Xin cảm ơn và hậu tạ"/ sau mẩu giấy vẫn còn văng vẳng: quấy rồi đục..nhục rồi than..tan rồi huề..mê rồi tỉnh..thỉnh rồi buông...".

Không ít người cho rằng giá trị "thật" của thi ca là phải có thơ "hay" chứ không cần thơ phải "mới" (thà "cũ" mà hay còn hơn "mới"mà dở!?). Nhưng một số người lại cho rằng nếu các nhà thơ hậu bối cứ học hỏi "bắt chước" kiểu viết của các đại thi hào ở những thế kỷ trước thì làm sao nền văn học Việt Nam có được những "giá trị mới" của thơ tiền chiến 1930-1945 còn ảnh hưởng đến tận hôm nay. Như vậy mỗi thời đại đều có diện mạo thơ ca riêng của mình mang hơi thở và sức sống của thời đại đó. Vì thế những tài năng thơ ở mỗi một giai đoạn mới dường như đều nỗ lực kiếm tìm những giá trị mới trong nghệ thuật để cho thơ hành trình cùng với đời sống tinh thần của con người qua mỗi chặng thời gian.

Theo tôi bản chất của sự cách tân và đổi mới thơ không chỉ nằm ở sự tìm tòi về mặt hình thức nghệ thuật cấu trúc của ngôn ngữ thơ mà điều thiết yếu căn cốt là ở sự đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ. Trong rất nhiều thế kỷ qua các trường phái thơ lớn trên thế giới qua mỗi thời kỳ đều hướng tới sự tìm tòi và cách tân thơ. Điều khác biệt (và khu biệt nhất) để có thể nhận ra được các nhà thơ cách tân của mỗi thời đại có gương- mặt- thơ khác nhau như thế nào chính là ở nội dung đời sống trong thơ họ ở thời đại ấy đã được phản ánh khắc hoạ trong một trường- thẩm- mỹ nào. Theo tôi các nhà thơ xuất hiện sau năm 1975 trong đó có Mai Văn Phấn đã hướng đến những tư duy thẩm mỹ mới và hiện đại. Thơ của họ đã vượt thoát khỏi những khuôn sáo ước lệ của vần điệu để thắp lên những hình tượng thơ mới. Không gian thơ được mở rộng hơn mở sâu hơn với tới các chiều kích của những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao. Và trong trường- thẩm -mỹ này những vấn đề tưởng chừng lớn lao lại được khái quát lên từ những cái rất tầm thường nhỏ bé của đời sống quê hương máu thịt hàng ngày.

Nhà thơ Mai Văn Phấn đang hướng tới những bến bờ cách tân ấy anh đã bước đầu có được những dấu ấn riêng trong nền thơ đương đại của chúng ta với tư cách là một nhà thơ rất chuyên nghiệp chuyên sâu và có nhiều ý tưởng mới. Trong bài thơ "Chọn cảnh" dưới đây chúng ta sẽ thấy Mai Văn Phấn với một "góc nhìn" mới về thơ cách tân đã nắm bắt và triển khai thi pháp hiện đại một cách sáng tạo như thế nào: "Trong mơ ngả mình trên biển/ gối đầu lên tay em/ Em nghĩ nơi đây biển sâu 8 mét/ (tôi đọc được ý nghĩ)/ có đám mây và chim hải âu/ Tôi mang giấc mơ ra phố/ lúc ăn sáng thấy mình giống miếng mộc nhĩ/ sôi lên trong nồi nước dùng/ nồi nước sâu 8 mét/ Vào thăm bạn trong ngõ hẹp/ biển số nhà giống miếng mộc nhĩ trong nồi nước dùng/ tiếng bạn vọng từ độ sâu 8 mét/ Khép bớt cửa vì lạnh/ Hơi ẩm mơ hồ ngấm xuống rất sâu/ Thấy khoảng cách từ chân ghế tới bức tượng/ tiếng mọt kêu tới vụt nhanh tia chớp/ giữa những khuôn mặt trong quán phở xa lạ.../ bằng/ khoảng cách giữa đám mây và chim hải âu/ đẹp tuyệt vời trên độ sâu 8 mét".

Một bài thơ luôn mang lại cho ta những bất ngờ đến từ mỗi câu thơ và ta không thể đoán định nổi câu thơ sau Mai Văn Phấn sẽ viết gì về "cái độ sâu 8 m" đã ám ảnh nhà thơ (và ám thị luôn cả người đọc). Bạn đừng đòi hỏi sự có lý sự hợp chuẩn sự dễ hiểu của những bài thơ hiện đại kiểu này nó có vẻ như phi-đời- sống và phi-hiện- thực nhưng nó chính là một đời sống hiện thực 100% theo kiểu nhìn "nghiêng". Và ở giác độ mới này nhà thơ đã phát hiện giúp chúng ta những cảm nhận khác lạ về một số hiện tượng đời sống ở những góc rất khôi hài và nhiều ý vị.

Với Mai Văn Phấn mỗi bài thơ là một thể nghiệm để có được một phát hiện mới một ghi nhận mới về sự cách tân. Anh miệt mài như thế đã nhiều năm anh đọc khá kỹ và đọc khá nhiều tác giả thơ hiện đại của thế giới để nắm bắt những trường phái cách tân thơ hiện nay. Sau những kiên trì thể nghiệm (có lúc đã đạt tới một cái gì đấy và cũng có khi còn lúng túng hoang mang) thơ Mai Văn Phấn thời gian gần đây bắt đầu "non xanh" trở lại và bớt đi những liên tưởng rắc rối (khiến người đọc thấy choáng sốc nhiều hơn là được thưởng ngoạn vẻ đẹp của thơ). Và bài thơ "Nghe em qua điện thoại" là một dẫn chứng về sự "non xanh" ấy: Tiếng em trong điện thoại rất trong và nhẹ/ Một giọt nước vừa tan/ Một mầm cây bật dậy/ Một quả chín vừa buông/ Một con suối vừa chảy.../ Khoảng cách tới đầu dây bên kia là ruộng đồng làng mạc quang gánh... Là xe cộ tháp dựng rễ sâu... Giọng em không vượt qua mà làm cho chúng bé lại mở thông những cánh cửa sang nhau. Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm con sông chảy vào quang gánh làng mạc phồn sinh tháp dựng cánh đồng tươi tốt trên xe cộ.../ Nói tiếp cho anh những câu bâng quơ không nội dung!/ Lát nữa em đặt ống nghe chắc mọi vật sẽ loay hoay tìm về đường cũ/ Chỉ còn gợn sóng lan xa/ Chỉ còn tan trong diệp lục/ Chỉ còn thoảng bay dịu ngọt/ Chỉ còn bờ đá lung lay...".Một bài thơ tình khá hiện đại tôi có cảm nhận thơ Mai Văn Phấn đang bắt đầu có độc giả và họ là những người đọc của thời @- cái thời mà giá trị thi ca đang chịu rất nhiều thử thách và đang trăn trở tìm lối thoát.

Theo tôi cái mới trong thơ nhiều khi không cần đến sự trình diễn cầu kỳ bằng một hình tượng lạ một cấu trúc lạ một biểu đạt lạ mà điều nó hướng tới phải là một phát hiện mới về tính suy tưởng của thơ. Và bài thơ "Hắn" của Mai Văn Phấn sau đây là một trong những bài thơ mang lại sự phát hiện mới về tính suy tưởng của thi ca: "Nơi bóng tối ăn thịt bóng tối/ hắn ngồi lẩm bẩm.../... lầm rầm âm thanh tiếp diễn/ của bóng tối chưa thành/ của bóng tối nuốt dần bóng tối/ của màu đen không thể đen hơn/ Hắn là nơi hoàn thiện: của gương đã lành/ sâu đã nở/ trinh đã mất/ cáp đã đứt/ cống đã thông.../ là bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ sinh/ giày dép lạc mốt.../ là viên đạn bay đi chạm đích/ những vòng kinh hồi sinh/ dòng sông gặp biển../.Lần mò leo tận cây cao/ hắn hô: Ê chiếu ánh sáng vào đây!/ Theo đèn pin le lói/ mọi người thấy hắn giang tay và bay lượn tựa thiên thần/Hắn cười và vung tay đấm qua lỗ thủng đã khoét sẵn trên tấm bìa. Những ngón tay xương xẩu co lại thành quả đấm thép lao qua tâm điểm không vật cản. Hắn nghĩ bàn tay đang tìm khoái cảm của con chó chui qua bức tường lớn. Vị trí tấm bìa hắn giơ lên để nắm tay kia bay qua là khoảng cách quá ngắn. Khát thở/ Mỗi lần lao qua miệng lỗ thủng bàn tay hắn lại xòe rộng. Tấm bìa giống con sứa đang bơi mắc phải lưỡi câu chùm. Xoay tấm bìa hắn hát: trời xanh í a... đây vòm ngực rộng... Bên kia tấm bìa là thế giới khác. Biển báo thầy giáo cũ biên bản giám định chợ búa kỷ niệm chương thợ móc cống hội đồng hương tu sỹ dầu tắm bẫy chuột nhà tiên tri... và thời trang cũng khác (hắn nghĩ thế!). Hèn gì không chui nốt cả tay kia (!)/ Hắn liệng tấm bìa vào thùng rác xuống tấn đấm liên hồi vào lỗ thủng ước lệ lao đi tốc độ chóng mặt/ Một dự báo về tương lai của thể thao. Với nhan đề trang trọng của tờ báo buổi chiều hắn có tên trong danh sách những nhà vô địch".

Thật ra thơ hay có những tiêu chí gì chuẩn mực gì vẫn là chuyện muôn đời xưa nay còn phải bàn cãi vì cái hay đối với lớp người này (ở thời điểm này) chưa chắc đã là hay đối với lớp người khác (ở thời điểm khác) và ngược lại. Nhưng có một điều dễ nhận ra thơ hay là thứ thơ còn đọng lại được qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian bởi thời gian là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo đích thực của nghệ thuật văn chương. Với Mai Văn Phấn vẻ đẹp nhân văn của ngôn ngữ thơ vẫn mãi mãi ám ảnh những câu thơ của anh. Và hành trình sáng tạo văn học của Mai Văn Phấn đang hướng đến những giá trị đích thực của đổi mới thơ trong đó có sự tìm tòi làm giầu cho ngôn ngữ thơ.

NVC.

More...

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'8382','rmlgi4eiun5dhbjne26lpmivh7','0','Guest','0','54.80.102.170','2018-08-15 13:35:01','/ac15250/tho.html')