bài viết của MIÊN DI

By Nguyễn Thánh Ngã

 

Lục Bát Văn Công Hùng - "rơi ngang một giọt không tên"
Thứ tư 06.10.2010 07:28pm (GMT+7)

                                                                           

          Lục Bát - một thể thơ giản dị chân phương nhạc tính hiền từ màu thơ nâu sồng đất cát... Ấy vậy mà lạ cái mình mẩy mộc mạc ấy lại vừa vặn giao hòa với tất cả: từ tinh thần khâm nghiêm của Cổ đến táo bạo của Kim; từ dịu dàng lời ru đến tưng tửng U-Mặc (humour); từ mộc mạc ca dao đến hàn lâm minh triết; từ trữ tình ướt át đến nghịch ngợm trào phúng... Vừa tất! Thế mới lạ thế mới khiến mấy anh chàng "hậu hiện đại" đao to búa lớn phải nể vì. Thế mới khiến Cụ Bùi Giáng tay chống  gậy siêu việt trí miệng khề khà lời vô ngôn vẫn cứ thích ngã kềnh trong manh chiếu quê rộng ngang 6 - 8. Vì thế Lục bát sẽ vẫn sống mãi bất chấp mọi đổi thay như đại lượng bất định "Còn" trong câu thơ của cụ Bùi: "Người còn thì của hãy còn / Người không còn nữa thì còn cái chi".

        Đôi lần được ngồi chuyện trò cùng nhà thơ Văn Công Hùng trong câu chuyện thảng hoặc anh lại trầm ngâm kể về quê hương với một nỗi niềm đau đáu. Có lẽ với riêng anh "đi đến" cùng nghĩa với "tìm về". Cũng đúng thôi ai chẳng mang di tích tuổi thơ. Thật may mắn cho người nào khi trên đầu mây trắng bay mà vẫn còn đó bến đò cũ - để dừng chân hồi cố vẫn còn nguyên giậu dâm bụt xưa - để hoài niệm tựa đầu. Nhưng thường thì chẳng mấy ai được thế. Thời gian làm bạc phếch những kỷ niệm bê-tông hóa những khoảng sân đanh đáo. Quê hương trong tâm tưởng và quê hương sau bao mùa dâu bể mấy khi đợi nhau mấy khi còn cùng vẹn nguyên dáng vẻ. Để rồi như một lời than "chưa về Huế đã vội vàng ra đi". Để rồi bài thơ đầu tiên trong tập thơ "Lục bát Văn Công Hùng" được bắt đầu bằng một bài thơ đẫm màu thu hoài niệm có thể "mùa thu..." ấy đã xa lắm. Nhưng với anh vẫn "...như thể nắng vừa trôi qua".

        Văn Công Hùng trong thế giới Lục bát của riêng anh thường hay... "lơ ngơ" cái lơ ngơ lạc ra khỏi nhưng toan tính bon chen. Có lẽ lúc ấy con người ta mới tinh tường mới gặp được những vẻ đẹp thuần khiết trong những điều dung giản như một vạt hoa mua: 

"lơ ngơ gặp vạt hoa mua

tím thì thật tím nhưng chưa cũ ngày"

        Rồi trắc ẩn mà thương những lúc vẫn phải còn vất vả tít mù thân phận con người ta như "con chim sẻ tìm không thấy nhà":

"tít mù nam bắc tây đông

thương con chim sẻ tìm không thấy nhà"

         Đã "lơ ngơ" thì thường... không hợp lý ai lại "thì thôi bước xuống ruộng cà" mà lại "hái nhành sen trắng làm quà tiễn đưa"? Lạ thật! Sen thì ở ao sen mắc mớ chi mà lại ở... ruộng cà? Vô lý! Nhưng cũng bởi thấy vô lý nên mới đọc đi đọc lại rồi vỡ lẽ ra rằng: thế giới ước lệ của thi ca không phải là một không gian toán học - nơi ấy một cánh "hoa rơi" có thể làm "núi xẻ". Bởi thơ thuộc về tâm hồn mà tâm hồn thì có bao giờ màng đến... lý lẽ. Tác giả đã mượn hình tượng "ruộng cà" như một khái niệm về thế giới mộc mạc với những giá trị chân thật - rằng khi con người ta nhìn thấy những điều quí giá mà đơn giản thì nơi "ruộng cà" nhọc nhằn của đời sống sẽ hóa điền tâm nở những nhành sen trắng giác ngộ - một ẩn dụ bằng một ý niệm Phật học kín đáo.

        Trong bài "bến mê" người đọc cảm thấy - chỉ là cảm thấy thôi - một nỗi khắc khoải dương tính tác giả đã bàn về cơn khát dục tình rất mực tao nhân. Chỉ "ghẹo" nỗi khát của mình chỉ tả "bờ giai nhân" rất... phòng the - một Văn Công Hùng phong tình mà kín đáo:

"chiều nay có một cánh buồm

trôi vào xứ lạ ghẹo cành san hô

nghiêng tai gánh một hải hồ

lưu ly nở trắng hai bờ giai nhân

có nhành rong biển tần ngần

mắt ti hí nhắm mà lần bến mê"

        Tuy vậy những câu thơ cuối là có vẻ gì đó... tần ngần rằng vẫn muốn "gánh một hải hồ" vẫn như sức trai vâm "mắt ti hí nhắm mà lần bến mê". Nhưng có vẻ như vầng sung mãn ấy chỉ hướng về hoài niệm chỉ ở trong cái "ước gì" bất khả - như càn khôn lộn ngược: "Ước gì trời thấp đất cao":

"tai nghe vệt nắng sau hè

biết con chuồn tía thả bè từ tâm

tôi đem trăng thả vào rằm

thấy người thủa ấy đang nằm đếm sao

ước gì trời thấp đất cao

tôi cùng người ấy lên chào gốc đa..."

         Văn Công Hùng có cái tài lặn lội vào tâm tư người  khác bằng... thơ anh có những câu thơ như kiến cắn - nhói mà không nhức nhối. Dường như đọc thơ anh ai cũng thấy một chút chính mình trong ấy. Những khi mà con người ta "con người" nhất như lúc mượn thơ mà tợp rượu "nỗi buồn loãng cả cơn say". Nhiều lúc phăng phăng trên "chiến mã" bỗng  giật mình hãm phanh không phải vì đèn đỏ mà vì... chợt nhớ đến thơ anh: "có những lúc rồ ga như tuẫn tiết / dốc chạy lùi cơn gió vút sau lưng". Những điều đó đã là cá tính nên trong tập lục bát này không hiếm những câu thơ kiến cắn dạng ấy. Nhưng không "hừng hực"  nữa mà đầy vẻ trần tình:

"với tay thì đụng vươn vai

Duỗi mình lại gặp gió mài bóng trăng"

         Đầy tự sự:

                         "vén khuya

                          gặp tiếng mưa rào

                          nao nao nhớ cỏ chân mao lưng trời"

         Đầy chiêm nghiệm:

"không bèo bọt chưa đá vàng

Ngẫm đời như lũ dã tràng biển khơi"

         Thơ Văn Công Hùng giàu hình ảnh những hình ảnh rất đỗi đời thường. Nhưng cái khác biệt là anh biết tạo nên từng cặp biền ngẫu trạng thái: đậm và nhạt thực và mơ... Nếu làm họa sĩ hẳn rằng anh sẽ vẽ đẹp bởi cái cách tổ chức hình ảnh trong thơ anh chặt về bố cục - một bố cục có phông nền có điểm nhấn:

"hoa vông nở ướt lá gừng

Tôi mang xa lạ vào rừng hoang vu"

         Có gút thắt có gợi  mở...

"Chiều như lửa đốt lòng nhau

tượng mồ run rẩy về đâu kiếp người

...

                                                                hoang sơ

                                                                chiều rót tràn vai

                                                                ché và chiêng

                                                                và đầy vơi rượu cần

                                                                nằm đây một nắm xương tàn

                                                               đứng dậy tượng hát một ngàn lời yêu"

         Đôi khi cái khả năng họa tả ấy kết hợp với cá tính phong tình vốn dĩ làm người đọc có cái cảm giác đọc thơ anh như xem... tranh khỏa thân - một loại tranh khỏa thân ý niệm - mượn thiên nhiên để vẽ con người trên phông nền tưởng tượng:

"tôi đi về hướng thiên đàng

hình như con ốc vú nàng nhìn tôi

nhặt lên tia nắng mắt trời

gặp viên đá cuội với lời tịch nhiên"

       Anh vẽ bằng thơ hẳn rồi. Nhưng không tả thực cặn kẽ bao giờ - như phương cách của họa phái Ấn tượng: tổng quan được gói gọn - đầy đủ - nhanh không cần lê thê nhằm tạo ra hiệu ứng diễn mở hình ảnh trở thành đôi cánh trên vùng bay suy tưởng:

"khói đồng đốt giữa hư không

rơm vàng cột với lá vông mà buồn"

       Khả năng quan sát và sử dụng hình ảnh này đã giúp anh nhiều trong những bài thơ có nội dung khắc họa những nơi anh đã từng qua: " đò ngược phá tam giang" "ta về Đà lạt" "đêm Krông Pa" "lục bát côn đảo"... những bài thơ ngồn ngộn hình ảnh:

"ta thương một cánh hải đường

qua giông bão nở trắng vườn Phong lai

Ngũ điền bạc thuốc nghẹn khoai

xuyên chân cát bỏng đâm trồi phi lao

...

ta về sen nở từ lâu..."

 

         Có vẻ như một thói quen tiềm thức. Lục bát Văn Công Hùng vẫn phảng phất nét thanh nhã một thời của dòng thơ trữ tình lãng mạn: "gói chiều vào mảnh khăn tay / em đem nhan sắc dãi bày mênh mông". Nhưng chỉ đôi chỗ thôi rồi như sực nhớ anh lại quay về với cái tư chất của chính anh: tung tẩy... Tóm lại là trẻ nhưng nói theo ngôn ngữ hè phố là... "trẻ không đều": đang chân chất giọng trai làng khi ra vẻ "cầu trời phù hộ cho em / chờ khi cả gió đi buôn vịt giời" bỗng câu tiếp theo lại ngổ ngáo như một lãng tử phớt đời: "tôi ngồi đếm tuổi tôi chơi / đếm vu vơ đếm gọi mời bến mê" tiếp theo nữa lại là một dạng ngôn ngữ đương đại đầy chất kỹ thuật khi lắp thực tại hữu hình "em đi ngược" vào một thực tại trừu tượng "phía lời thề". Có lẽ nơi tiềm thức anh từng được lớn lên đã từng được hít thở trong không gian thơ trữ tình lãng mạn nhưng khuynh hướng cảm thụ và sáng tác đang chuyển dần về các thủ pháp của thơ đương đại. Nên tạo nên một phong thái "trẻ không đều" dễ thương ấy. Anh thoải mái đem những hình tượng dân dã "trộn" với cách ước lệ trừu tượng:

"hanh hao dế gọi đường mưa

Một vầng sương nhỏ lọt vừa kẽ tay"

         Rồi táo bạo - lấy những đơn vị hữu định  "một ly một chén một bình..." để "đong" những cái... rất mơ hồ:

"ta đong một chén bình minh

một ly nghiêng ngửa một bình hoàng hôn

em nâng một núi thẳm buồn

một sông sung sướng một nguồn ngất ngây..."

          Rồi là... nghịch ngầm:

"này em gió nội hương đồng

bờ sông cây cải đã ngồng lên dưa

bên chùa hoa táo gió đưa

nâu sồng xin chớ làm lơ câu chào

áo khăn mắc cỡ bờ rào

tình tang mô phật ta vào thắp hương

ước gì mắt ở sau lưng

để rồi ngộ cõi vô thường nhân duyên

...

tối nay đợi ở gốc đa

em cho ngồng cải để mà... muối dưa"

        Và còn cả... "giang hồ" nữa. Nhưng như một  kẻ du lãng đã về với cửa thiền định thỉnh thoảng ngó ra ô cửa bức tường lý trí nghiêm thâm để thấy chính mình bên trong cái "một tôi" khác - là mình nhưng hình như... không phải chính mình: "một mình tôi với một tôi một mình":

"ngày đi nghe tửng từng tưng

mây giang hồ thổi lưng chừng cõi duyên

ba mươi ngậm gió nhả thuyền

cánh buồm nhấn nhá một huyền xanh cao

lia ngang con mắt như chào

Ai đem sa mạc thả vào xanh non

...

Hình như có lúm đồng tiền chợt rơi"

 

        Anh đẩy vào thơ mình những từ đắt nghĩa: "mỏng" "khêu nỗi nhớ" "vắt"... Nhưng cùng lúc lại cố tình làm "rẻ" đi ở khía cạnh truyền tải thông tin bằng những từ mang ý nghĩa tương tự như liên từ - dẫn ý rất cụ thể như trong văn nói:  "vào - theo - đến - tận - đổ..." ngõ hầu dìu cảm hiểu của người đọc đến với tứ thơ - điều đó cho thơ anh có độ lan tỏa rộng ra đại chúng những đối tượng người đọc:

"tường vi thì mỏng vào chiều

em khêu nỗi nhớ theo liêu xiêu gầy

đã vắt đến kiệt bàn tay

đã mưa mưa đến tận ngày nước rong

đã từng khóc đổ cơn mong

đã thôi ngọn nến cháy trong đốt ngoài"

 

         Khoảng rỗng của nét khu biệt trong thơ Văn Công Hùng vừa đủ lớn để tạo ra một vùng nội suy sâu thẳm nhưng không quá rộng đến mức có thể làm tối nghĩa một câu thơ. Điều đó vừa thể hiện yếu tố kỹ thuật vừa thể hiện khả năng tiết chế cảm xúc - một khả năng chỉ có ở những con người đã trải nghiệm đã từng "giời đày sáng tuổi chìm tên" đã từng "u ơ hang đá mà quên chính mình". Để rồi lúc trầm mình trong thơ anh lượm trong cái túi vốn sống căng đầy ấy những triết lý nhân sinh đem bỏ vào Lục bát và dù vẫn làm "mờ"  nghĩa đi để có sức gợi suy nhưng vẫn khéo léo dừng lại ở mức độ bóng nghĩa còn ẩn hiện để thơ anh không đến mức quá khó hiểu:

"tay cầm cái khổng khồng không

hát cho một thủa trầu nồng vôi chua"

        Vì thế mà những câu thơ vẫn đẹp nhưng không bị mất đi độ sâu triết lý:

"lá rơi chẳng biết cành đau

nước trôi hòn sỏi nhuộm màu hớ hênh

mùa đi chân mây nổi nênh

một manh cỏ muộn xanh đành xanh thôi"

 

         Người ta gặp trong lục bát Văn Công Hùng rất nhiều kỷ niệm ở một ngày xưa kham khổ thủa mà đời sống còn nghèo nàn nhưng ấm áp: con đường dâm bụt mảnh sân đất thịt mái tranh sợi lạt nằm dưới bánh chưng má hồng răng đen... Những kỷ niệm gần gũi đến độ tưởng như có thể sờ nắn được ấy được anh dùng làm gạch đá để xây thơ - nhưng cái lạ là vôi vữa để ghép những viên gạch thô mộc ấy lại là những gì rất bảng hoảng lãng đãng: một tâm thế như "giờ đồng lên" một tâm cảnh như "cõi bùa mê" một ánh sáng tri giác lung linh như " cây nên thắp như là chiêm bao"... Vì thế mà thơ Văn Công Hùng như chông chênh giữa thực tại và mộng huyễn; giữa cõi đời hữu chấp và miền giác ngộ vô chấp; giữa lãng mạn trữ tình và nghênh ngao xổ toẹt; giữa đền đài miếu mạo cổ kính và khối hình lập thể hiện đại... Anh lựa chọn giữ lại những cái cũ linh diệu chỉ ở mức độ "ôn cố" và chủ động kiềm chế cái chất đương đại vừa vặn ở mức độ "tri tân". Cho nên khi  tôi viết bài trao đổi nhỏ này - dù thấy rõ mồn một màu thơ riêng chỉ có ở nét thơ của thi nhân họ Văn dù rất muốn đặt tên cho phong thể "Lục bát Văn Công Hùng". Nhưng rồi không thể gọi tên - chỉ còn biết níu vào một câu thơ của anh để mà tạm gọi: Lục Bát Văn Công Hùng - "rơi ngang một giọt không tên". Trong cách cảm hiểu hời hợt của cá nhân tôi - lục bát Văn Công Hùng là... một nàng Lục bát mung miêng - không tên như thể có tên lâu rồi.

Miên di

More...

bài viết của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến

By Nguyễn Thánh Ngã

 

Nguyễn Việt Chiến

Mai Văn Phấn với những bài thơ hướng đến một trường-thẩm-mỹ mới


Mới đây nhà thơ Mai Văn Phấn vừa gửi từ Hải Phòng lên Hà Nội cho tôi 2 tập thơ mới in của anh: "Hôm sau" (NXB Hội Nhà văn 7-2009) "và đột nhiên gió thổi" (NXB Văn học-quý III/2009). Tôi đọc liền một mạch hết 2 tập và điều cảm nhận đầu tiên là thú vị và ngạc nhiên. Thú vị là bởi cái giọng thơ nửa khôi hài nửa kể c
huyện theo kiểu thế sự hiện đại mà lại xót xa đau đáu trong tập thơ "Hôm sau" với nhiều bài thơ hay tới độ làm tôi phải "giật mình". Còn ngạc nhiên là bởi khúc tụng ca tình yêu của Mai Văn Phấn trong tập thơ "và đột nhiên gió thổi" cho thấy khí huyết thơ anh vẫn còn trẻ trung say đắm và tinh tế lắm. Cái đọng lại sau hai tập thơ mới này là một Mai Văn Phấn đã định hình một phong cách một giọng thơ hiện đại sau chặng đường quyết liệt cách tân và đổi mới trong nhiều năm qua.

Thời gian trước đây tôi cho rằng thơ hay (giống như một tấm gương phản chiếu) là loại thơ soi vào thấy mình thấy cuộc sống con người hiện lên sinh động với các chiều kích khác nhau ở trong đó còn thơ dở thì có soi vào mãi cũng không thấy gì. Còn thời gian gần đây tôi lại nhận ra rằng thơ hay là thứ thơ làm cho người ta phải kinh ngạc và thật sự rung động bởi một ý tưởng mới một suy tưởng mới một sức sống mới đang làm nên những dạng thức mới của ngôn ngữ thơ. Và bài thơ "Ghi ở Vạn lý trường thành" của Mai Văn Phấn là một trong những bài thơ hay khi nó mang trong mình một dạng thức mới của ngôn ngữ thơ: "Mây xếp trên vai từng tảng đá nặng/ nhòe mắt cát/ thở đầy ngực cát/ Vạn lý trường thành còn xây dở?/ Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ/ Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ/ đánh hộc máu mồm/ Khâm thử/ Ngước lên gặp một khuôn mặt bì bì/ Tay lạnh mắt chì giọng mỡ/ Mái Phong Hỏa Đài màu huyết dụ/ Hình thanh long đao dính máu đang kề cổ/ Còng lưng đẩy nắng đi/ Chồn chân đẩy gió đi/ Miễn sao gần được bông hoa/ Đang mởn mơ trong gió lớn/ Tâu Hoàng thượng/ thưa ngài/ báo cáo đồng chí/ Bỉ chức/ thảo dân/ em.../ Sẽ làm tròn bổn phận/ Đây là đỉnh trời/ hay đáy vực sâu/ chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát/ Mồ hôi du khách trên đá xám/ Nở thành hoa phù dung". Không còn nghi ngờ gì nữa đây là một trong những bài thơ hay nhất của Mai Văn Phấn từ hai tập thơ vừa xuất bản.

Trong số những nhà thơ sung sức hiện nay đang có những cách tân được dư luận chú ý phải kể tới Mai Văn Phấn. Theo tôi anh đã biết cách giữ được đặc thù của ngôn- ngữ -thơ trong chuyển động đổi mới của những con chữ. Đây chính là sự khác biệt giữa một số cây bút cách tân đã nhân danh cái mới để "lạ hoá" thơ đến mức phản -thơ với những tác giả có xu hướng tìm tòi nhằm nâng cao vẻ đẹp của ngôn- ngữ- thơ bằng những ý tưởng mới. Trong bài thơ "Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ" mở đầu cho tập thơ "Hôm sau" Mai Văn Phấn đã dựng một tứ thơ khá mới lạ theo cách kể chuyện pha chút "liêu trai" khá dí dỏm khôi hài: "Pha xong ấm trà/ quay ra/ ông khách không còn ở đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông mất đã bảy năm/ Nhầm lẫn (!)/ Nhà mình/ mọi sự đảo lộn/ Không nhớ bức chân dung hạ xuống bao giờ.../ Đâu rồi chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót?/ Bộ ấm chén giả cổ ai cho?/ Ghé sang hàng xóm/ thử hỏi mấy loại thực phẩm/ loại tăng giá/ loại còn giữ giá/ Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi./ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu mươi dựng đứng trước mặt/ chốc lại cúi gập".

Trong đoạn thơ trên cái hàm ý sâu xa mà nhà thơ muốn khơi gợi nằm chính trong sự xuất hiện "đáng ngờ" của một chân dung một nhân vật không còn tồn tại trong đời sống nhưng vẫn luôn lảng vảng ở xung quanh chúng ta như một ám ảnh bắt ta phải nghĩ tới. Diện mạo chân dung ấy rất có thể là của một ông khách hàng xóm mà cũng có thể còn là một chân dung ngộ nhận nào khác tùy theo sự liên tưởng của mỗi người.

Mai Văn Phấn nằm trong số ít các nhà thơ đã thành danh nhưng đang có những tìm tòi cách tân thơ đầy hào hứng và quả quyết. Khoảng hơn một thập niên trở lại đây anh và một số nhà thơ của thế hệ hậu chiến đã nổi bật lên như những cây bút tiềm tàng sức sáng tạo hướng về những cách tân thực sự mang lại cho thi ca một hơi thở mới một sức sống mới và một biến động mới làm lung lay những "nền tảng" cũ trong thơ trước đó. Trong bài thơ "Đúng vậy" của Mai Văn Phấn dưới đây bạn đọc có thể tìm thấy dưới những câu thơ kể chuyện bình dị như đời sống lại có một thông điệp khác của nhà thơ về thế giới này: "Lúc đi/ ông mặc áo len màu cổ vịt quần rộng đũng/ tóc cắt ngắn/ tay cầm sách/ ra gần cửa còn lẩm bẩm: sáng rồi tối..thối rồi thơm..bơm rồi xì..đi rồi ngã..vả rồi thương..ương rồi chín..nín rồi thét..kẹt rồi lơi..xơi rồi hóc..bóc rồi che..đe rồi chừa..đưa rồi quỵt..bịt rồi hở..lỡ rồi toi..moi rồi thấy../ chốt cửa gỗ/ kéo cửa sắt/ ông bấm năm chiếc khóa/ rồi ném chìa vào trong nhà/ Lật đống chăn nơi ông vẫn nằm/ thấy mẩu giấy với nét chữ nguyệch ngoạc "Ai tìm thấy tôi ở đâu gọi về số...Xin cảm ơn và hậu tạ"/ sau mẩu giấy vẫn còn văng vẳng: quấy rồi đục..nhục rồi than..tan rồi huề..mê rồi tỉnh..thỉnh rồi buông...".

Không ít người cho rằng giá trị "thật" của thi ca là phải có thơ "hay" chứ không cần thơ phải "mới" (thà "cũ" mà hay còn hơn "mới"mà dở!?). Nhưng một số người lại cho rằng nếu các nhà thơ hậu bối cứ học hỏi "bắt chước" kiểu viết của các đại thi hào ở những thế kỷ trước thì làm sao nền văn học Việt Nam có được những "giá trị mới" của thơ tiền chiến 1930-1945 còn ảnh hưởng đến tận hôm nay. Như vậy mỗi thời đại đều có diện mạo thơ ca riêng của mình mang hơi thở và sức sống của thời đại đó. Vì thế những tài năng thơ ở mỗi một giai đoạn mới dường như đều nỗ lực kiếm tìm những giá trị mới trong nghệ thuật để cho thơ hành trình cùng với đời sống tinh thần của con người qua mỗi chặng thời gian.

Theo tôi bản chất của sự cách tân và đổi mới thơ không chỉ nằm ở sự tìm tòi về mặt hình thức nghệ thuật cấu trúc của ngôn ngữ thơ mà điều thiết yếu căn cốt là ở sự đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ. Trong rất nhiều thế kỷ qua các trường phái thơ lớn trên thế giới qua mỗi thời kỳ đều hướng tới sự tìm tòi và cách tân thơ. Điều khác biệt (và khu biệt nhất) để có thể nhận ra được các nhà thơ cách tân của mỗi thời đại có gương- mặt- thơ khác nhau như thế nào chính là ở nội dung đời sống trong thơ họ ở thời đại ấy đã được phản ánh khắc hoạ trong một trường- thẩm- mỹ nào. Theo tôi các nhà thơ xuất hiện sau năm 1975 trong đó có Mai Văn Phấn đã hướng đến những tư duy thẩm mỹ mới và hiện đại. Thơ của họ đã vượt thoát khỏi những khuôn sáo ước lệ của vần điệu để thắp lên những hình tượng thơ mới. Không gian thơ được mở rộng hơn mở sâu hơn với tới các chiều kích của những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao. Và trong trường- thẩm -mỹ này những vấn đề tưởng chừng lớn lao lại được khái quát lên từ những cái rất tầm thường nhỏ bé của đời sống quê hương máu thịt hàng ngày.

Nhà thơ Mai Văn Phấn đang hướng tới những bến bờ cách tân ấy anh đã bước đầu có được những dấu ấn riêng trong nền thơ đương đại của chúng ta với tư cách là một nhà thơ rất chuyên nghiệp chuyên sâu và có nhiều ý tưởng mới. Trong bài thơ "Chọn cảnh" dưới đây chúng ta sẽ thấy Mai Văn Phấn với một "góc nhìn" mới về thơ cách tân đã nắm bắt và triển khai thi pháp hiện đại một cách sáng tạo như thế nào: "Trong mơ ngả mình trên biển/ gối đầu lên tay em/ Em nghĩ nơi đây biển sâu 8 mét/ (tôi đọc được ý nghĩ)/ có đám mây và chim hải âu/ Tôi mang giấc mơ ra phố/ lúc ăn sáng thấy mình giống miếng mộc nhĩ/ sôi lên trong nồi nước dùng/ nồi nước sâu 8 mét/ Vào thăm bạn trong ngõ hẹp/ biển số nhà giống miếng mộc nhĩ trong nồi nước dùng/ tiếng bạn vọng từ độ sâu 8 mét/ Khép bớt cửa vì lạnh/ Hơi ẩm mơ hồ ngấm xuống rất sâu/ Thấy khoảng cách từ chân ghế tới bức tượng/ tiếng mọt kêu tới vụt nhanh tia chớp/ giữa những khuôn mặt trong quán phở xa lạ.../ bằng/ khoảng cách giữa đám mây và chim hải âu/ đẹp tuyệt vời trên độ sâu 8 mét".

Một bài thơ luôn mang lại cho ta những bất ngờ đến từ mỗi câu thơ và ta không thể đoán định nổi câu thơ sau Mai Văn Phấn sẽ viết gì về "cái độ sâu 8 m" đã ám ảnh nhà thơ (và ám thị luôn cả người đọc). Bạn đừng đòi hỏi sự có lý sự hợp chuẩn sự dễ hiểu của những bài thơ hiện đại kiểu này nó có vẻ như phi-đời- sống và phi-hiện- thực nhưng nó chính là một đời sống hiện thực 100% theo kiểu nhìn "nghiêng". Và ở giác độ mới này nhà thơ đã phát hiện giúp chúng ta những cảm nhận khác lạ về một số hiện tượng đời sống ở những góc rất khôi hài và nhiều ý vị.

Với Mai Văn Phấn mỗi bài thơ là một thể nghiệm để có được một phát hiện mới một ghi nhận mới về sự cách tân. Anh miệt mài như thế đã nhiều năm anh đọc khá kỹ và đọc khá nhiều tác giả thơ hiện đại của thế giới để nắm bắt những trường phái cách tân thơ hiện nay. Sau những kiên trì thể nghiệm (có lúc đã đạt tới một cái gì đấy và cũng có khi còn lúng túng hoang mang) thơ Mai Văn Phấn thời gian gần đây bắt đầu "non xanh" trở lại và bớt đi những liên tưởng rắc rối (khiến người đọc thấy choáng sốc nhiều hơn là được thưởng ngoạn vẻ đẹp của thơ). Và bài thơ "Nghe em qua điện thoại" là một dẫn chứng về sự "non xanh" ấy: Tiếng em trong điện thoại rất trong và nhẹ/ Một giọt nước vừa tan/ Một mầm cây bật dậy/ Một quả chín vừa buông/ Một con suối vừa chảy.../ Khoảng cách tới đầu dây bên kia là ruộng đồng làng mạc quang gánh... Là xe cộ tháp dựng rễ sâu... Giọng em không vượt qua mà làm cho chúng bé lại mở thông những cánh cửa sang nhau. Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm con sông chảy vào quang gánh làng mạc phồn sinh tháp dựng cánh đồng tươi tốt trên xe cộ.../ Nói tiếp cho anh những câu bâng quơ không nội dung!/ Lát nữa em đặt ống nghe chắc mọi vật sẽ loay hoay tìm về đường cũ/ Chỉ còn gợn sóng lan xa/ Chỉ còn tan trong diệp lục/ Chỉ còn thoảng bay dịu ngọt/ Chỉ còn bờ đá lung lay...".Một bài thơ tình khá hiện đại tôi có cảm nhận thơ Mai Văn Phấn đang bắt đầu có độc giả và họ là những người đọc của thời @- cái thời mà giá trị thi ca đang chịu rất nhiều thử thách và đang trăn trở tìm lối thoát.

Theo tôi cái mới trong thơ nhiều khi không cần đến sự trình diễn cầu kỳ bằng một hình tượng lạ một cấu trúc lạ một biểu đạt lạ mà điều nó hướng tới phải là một phát hiện mới về tính suy tưởng của thơ. Và bài thơ "Hắn" của Mai Văn Phấn sau đây là một trong những bài thơ mang lại sự phát hiện mới về tính suy tưởng của thi ca: "Nơi bóng tối ăn thịt bóng tối/ hắn ngồi lẩm bẩm.../... lầm rầm âm thanh tiếp diễn/ của bóng tối chưa thành/ của bóng tối nuốt dần bóng tối/ của màu đen không thể đen hơn/ Hắn là nơi hoàn thiện: của gương đã lành/ sâu đã nở/ trinh đã mất/ cáp đã đứt/ cống đã thông.../ là bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ sinh/ giày dép lạc mốt.../ là viên đạn bay đi chạm đích/ những vòng kinh hồi sinh/ dòng sông gặp biển../.Lần mò leo tận cây cao/ hắn hô: Ê chiếu ánh sáng vào đây!/ Theo đèn pin le lói/ mọi người thấy hắn giang tay và bay lượn tựa thiên thần/Hắn cười và vung tay đấm qua lỗ thủng đã khoét sẵn trên tấm bìa. Những ngón tay xương xẩu co lại thành quả đấm thép lao qua tâm điểm không vật cản. Hắn nghĩ bàn tay đang tìm khoái cảm của con chó chui qua bức tường lớn. Vị trí tấm bìa hắn giơ lên để nắm tay kia bay qua là khoảng cách quá ngắn. Khát thở/ Mỗi lần lao qua miệng lỗ thủng bàn tay hắn lại xòe rộng. Tấm bìa giống con sứa đang bơi mắc phải lưỡi câu chùm. Xoay tấm bìa hắn hát: trời xanh í a... đây vòm ngực rộng... Bên kia tấm bìa là thế giới khác. Biển báo thầy giáo cũ biên bản giám định chợ búa kỷ niệm chương thợ móc cống hội đồng hương tu sỹ dầu tắm bẫy chuột nhà tiên tri... và thời trang cũng khác (hắn nghĩ thế!). Hèn gì không chui nốt cả tay kia (!)/ Hắn liệng tấm bìa vào thùng rác xuống tấn đấm liên hồi vào lỗ thủng ước lệ lao đi tốc độ chóng mặt/ Một dự báo về tương lai của thể thao. Với nhan đề trang trọng của tờ báo buổi chiều hắn có tên trong danh sách những nhà vô địch".

Thật ra thơ hay có những tiêu chí gì chuẩn mực gì vẫn là chuyện muôn đời xưa nay còn phải bàn cãi vì cái hay đối với lớp người này (ở thời điểm này) chưa chắc đã là hay đối với lớp người khác (ở thời điểm khác) và ngược lại. Nhưng có một điều dễ nhận ra thơ hay là thứ thơ còn đọng lại được qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian bởi thời gian là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo đích thực của nghệ thuật văn chương. Với Mai Văn Phấn vẻ đẹp nhân văn của ngôn ngữ thơ vẫn mãi mãi ám ảnh những câu thơ của anh. Và hành trình sáng tạo văn học của Mai Văn Phấn đang hướng đến những giá trị đích thực của đổi mới thơ trong đó có sự tìm tòi làm giầu cho ngôn ngữ thơ.

NVC.

More...

thơ Việt Nam đương đại của nhà thơ MAI VĂN PHẤN

By Nguyễn Thánh Ngã

 

Thơ Việt Nam đương đại buổi ra đi và trở về
Thứ hai 08.03.2010 01:29pm (GMT+7)

Nhận diện thơ Việt Nam đương đại thông qua báo chí các phương tiện truyền thông đại chúng và dựa trên những mối quan hệ cá nhân với từng tác giả quả là công việc nặng nhọc nhưng đầy hào hứng với tôi. Nó phản ánh khá rõ nét bước ngoặt quan trọng trong định hình và phát triển một giai đoạn văn học Việt Nam đặc biệt thơ ca vừa đa diện vừa phức tạp. Nếu không đánh giá đúng bản chất và nắm được quy luật vận động của giai đoạn này sẽ làm bạn đọc hoang mang chán nản mất phương hướng thẩm mỹ; làm phần lớn các tác giả trẻ lúng túng thậm chí tiêu phí quỹ thời gian cho những tìm tòi vô ích.

Sự nghiệp Đổi mới (từ 1986) đã tạo cơ hội cho văn học Việt Nam hội nhập nhiều hơn với thế giới. Nhưng thơ Việt Nam đương đại đang ở đâu? Đó là câu hỏi đã nhiều lần đặt ra và cũng không dễ trả lời. Thơ Việt Nam theo tôi chỉ duy nhất thời kỳ Thơ Mới (1930 - 1945) đã hoà vào dòng thơ thế giới cụ thể hơn là thơ ca Pháp. Trước đấy tạm lấy thơ cụ Tản Đà làm mốc nền văn chương cử tử của Việt Nam chủ yếu ảnh hưởng thơ Đường và giai đoạn đầu của thơ Tống. Từ cuối thơ Tống đến giai đoạn tiền Thơ Mới ở Việt nam nhiều khuynh hướng thơ ca Trung Hoa với chúng ta vẫn còn xa lạ. Phòng trào Thơ Mới ra đời từ cuộc hội nhập Đông - Tây thế kỷ qua. Từ những năm ba mươi thơ Việt Nam đã tiếp thu và phát triển khuynh hướng thơ Hiện thực và Lãng Mạn Pháp có kết hợp với Siêu thực và đi được một nửa Tượng trưng. Lúc đó thơ ca cũng như văn học nghệ thuật nói chung phải dồn hết tâm lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như chống Mỹ sau này. Chúng ta mãi biết ơn những nhà thơ tiêu biểu cho Phong trào Thơ Mới như Thế Lữ Xuân Diệu Huy Cận Lưu Trọng Lư Hàn Mặc Tử... Họ đã có công khởi xướng Việt hoá kết hợp nhuần nhuyễn với thơ truyền thống để có một trào lưu thơ ca hiện đại tồn tại đến hôm nay. Qua mỗi giai đoạn một số nhà thơ đã tự phát và đơn độc khởi xướng cách tân nhưng không trụ được trong dòng thác thói quen thẩm mỹ của đám đông lúc đó bởi rất nhiều nguyên nhân như hoàn cảnh lịch sử mặt bằng văn hoá bạn đọc và tài năng không đủ để độc sáng.

Vậy thơ Việt Nam đương đại đang ở đâu? Xin thưa thơ chúng ta vẫn chậm so với khu vực và thế giới chưa có diện mạo riêng dòng chảy chưa được định hình.

Ngay sau năm 1986 đã xuất hiện số ít nhà thơ (trong và ngoài nước) có ý thức sâu sắc cách tân thơ Việt. Họ có chủ thuyết riêng biệt chắc chắn và tự tin trên con đường đã chọn. Họ có đủ kiến thức thi ca có nền tảng văn hóa & xã hội sâu rộng có bản lĩnh khám phá và cả lòng dũng cảm bình tĩnh trước sức ép công luận dám chấp nhận đơn độc trên con đường mới mở ra một  không gian thơ khác tạo tiếng nói khác. Họ khác hẳn số đông từ nền tảng lý tưởng thi ca đến cách biểu đạt ý tưởng lập ngôn cách tạo những chuyển động thi ảnh... Thời kỳ đầu đa số bạn đọc đã phản ứng quyết liệt trước một số hiện tượng thơ cách tân thậm chí đã chống lại những quan niệm thẩm mỹ mới lạ. Nhưng thời gian khách quan đã minh chứng một số thành công nhất định của các tác phẩm (dù chưa nhiều) nhưng cũng để bạn đọc bình tĩnh nhận ra chân/ giả  của những chuyển động mới.

Kế tiếp là các gương mặt trẻ cũng hào hứng đi tìm tiếng nói mới cho thơ. Và mỗi người theo cách của mình đã ít nhiều tạo cho thơ ca những diện mạo mới lạ hơn. Nhìn chung lớp trẻ có kiến thức tổng hợp phong phú giỏi ngoại ngữ nhưng do thiếu hệ thống lý thuyết về thi ca thiếu cả cung bậc về văn hóa xã hội nên đa phần lúng túng trước các trào lưu trường phái du nhập từ phương Tây một số khác như ngựa phi nuớc đại nhưng cắm mốc vào ngõ cụt. 

Có thể điểm một số trường phái thi ca tiêu biểu đã ảnh hưởng đến dòng chảy của thi ca Việt đương đại. Trường phái tượng trưng một trào lưu nghệ thuật của Phương Tây cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 chủ trương biểu hiện bằng những hình ảnh gián tiếp gợi ra những ý niệm tương đương về thế giới và sự vật những bí ẩn mà cảm giác không thể nhận biết. Trường phái Siêu thực tuyên ngôn vào năm 1924 nhằm thoát ly hiện thực để biểu đạt những tưởng tượng chủ quan của mình ghi lại những ảo giác tự phát. Ngoài ra còn có các trường phái nghệ thuật khác có ảnh hưởng trực tiếp đến thơ ca như Trường phái Dada Vị lai Biểu hiện...vv... Các trường phái nêu trên có tên chung là chủ nghĩa Hiện đại thực chất là chủ nghĩa hình thức và duy mỹ. Nó phát triển rực rỡ những năm 30 thế kỷ trước nhưng cho đến nay nhiều nghệ sỹ kể cả ở châu Âu vẫn sử dụng nó như những cảm thức sáng tạo. Từ khi chủ nghĩa tư bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa tư bản tiêu dùng đã xuất hiện chủ nghĩa Hậu hiện đại. Về cơ bản chủ nghĩa Hậu hiện đại không phải sự tiếp nối của chủ nghĩa Hiện đại không phải một trào lưu nên không có chủ thuyết ổn định. Nó phát triển trong điều kiện hậu hiện đại tùy thuộc địa chính trị địa kinh tế địa văn hoá của mỗi vùng đất mỗi dân tộc. Từ cuối thế kỷ 20 chủ nghĩa Cổ điển mới đã xuất hiện là sự tái hợp huy hoàng của nghệ thuật với chủ nghĩa nhân văn cao cả mà nhân loại có lúc đã sao nhãng nhằm chống lại cơn tuyệt vọng thẩm mỹ của thế kỷ 20 để nghệ thuật hướng đến cái đẹp nhân bản hơn cái đẹp không thể tách rời cái đẹp đạo đức và cái đẹp trí tuệ...

Nhìn lại những trào lưu nghệ thuật đặc biệt thơ ca chúng ta thấy chúng xuất hiện trong bối cảnh lịch sử nhất định đã đóng góp xứng đáng và tất yếu vào lộ trình thi ca nhân loại. Nhưng ngay ở thời điểm rực rỡ nhất nó cũng chịu không ít những áp lực phủ định quyết liệt từ phía dư luận. Nhà thơ nổi tiếng Wallace Stevens (1879-1955) của Hoa Kỳ cũng từng nói về chủ nghĩa Hiện đại không mấy thiện cảm: "Chúng ta không nên tiêu phí thì giờ để làm hiện đại còn bao nhiêu việc quan trọng hơn...". Tuy nhiên không thể vì những phủ định mà dừng lại cần thám hiểm cần phiêu lưu cần đặt chân lên những vùng đất mới. ĐI & sẽ TRỞ VỀ. Thơ trẻ đương đại đang có  biểu hiện khao khát muốn "trở về nhà". Sự trở về không có nghĩa quay lại ngôi nhà cũ (tạm gọi Hiện thực và Lãng Mạn) mà mang một diện mạo khác một tâm thế khác trên con đường khác.

Tôi hâm mộ ai đó dám buớc đi và biết quay về trên cội nguồn thơ Việt với tâm thức của thời đại biết vận dụng linh hoạt thi pháp các trường phái mà không đánh mất bản chất tâm hồn Việt vốn sáng trong chân thành bao dung mà rất hiện sinh tinh tế trong cảm nhận nhân bản hồn hậu trong nghĩ suy về phận người...

Đã có những lúng túng giữa các nẻo đường chủ nghĩa với trường phái có cả những "lạc đường" dung tục   có những khuynh hướng "phi thơ" mà dùng thơ như "phương tiện" để trục danh trục vọng. Từ nhận diện thơ Việt đương đại như trên tôi mạnh dạn đề xuất:

1 - Các cơ quan báo chí và truyền thông trước hết của Hội Nhà văn VN nên tổ chức các hội thảo chuyên đề cho từng khuynh hướng đăng lại các chủ thuyết nhận định tuyên ngôn hay tiêu chí quan trọng hơn là các tác phẩm tiêu biểu cho từng trường phái. Điều đó tạo cho các nhà thơ và bạn đọc tầm nhìn phổ quát mang tính định hướng về thơ ca thế giới là cơ hội để phát huy và làm phong phú thêm giá trị truyền thống của chúng ta.

2 - Sẵn sàng hội nhập để không có ngoài/ trong lề trong/ ngoài nuớc  bằng việc cho công bố những tác phẩm hay & mới. Sẵn sàng đối thoại công khai bình quyền với các chủ trương/ trường phái/ nhóm thơ trên các mặt báo và phương tiện truyền thông đồng thời chọn tác phẩm tiêu biểu đưa vào nghiên cứu ở các trường đại học.

Tôi tin rằng gương mặt của trở sự trở về chắc chắn phải là hình ảnh thơ Việt Nam đương đại trải ra trên bề mặt thế giới phẳng mang tính toàn cầu mới mẻ giàu tính nhân văn đẹp đẽ sáng trong tâm hồn Việt. Con đuờng vẫn đang ở phía truớc và tất cả chúng ta những người cầm bút phải trả lời bằng chính tác phẩm của mình

Mai Văn Phấn

More...

thơ là phương tiện của nhà thơ THẠCH QUỲ

By Nguyễn Thánh Ngã

 

Thơ là phương tiện đồng hoá con người với sự sống
Chủ nhật 04.10.2009 10:24am (GMT+7)

Nhà thơ Thạch Quỳ - Ảnh: nhathonguyentrongtao.wordpress.com


Thơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây như suối cạn nước hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.

Các nhà thơ chúng ta cần liên hiệp lại cần lên tiếng báo động thơ cấp bách như tổ chức hoà bình xanh lên tiếng báo động về môi trường vậy. Môi trường thơ suy thoái cũng chính là cái lõi của môi trường sống suy thoái. Môi trường thơ hiện tại cũng đã là vấn đề toàn cầu như môi trường sống vậy. Các nhà thơ chúng ta không thể hình dung nổi một sự sống không thơ một sự sống điều hành Rô-bốt mà chính mình cũng thành Rô-bốt! Không phải riêng tôi nói to lên phóng đại lên một nỗi lo hão huyền mà chừng như tất cả các nhà thơ đều ít nhiều có mang trong mình nỗi lo âu phấp phỏng đó. Các nhà thơ rất nhạy cảm trước các lý do mà thực tế cuộc sống buộc thơ phải đối diện. Thơ là con đẻ của sự tĩnh lặng đồng thời là thiên sứ trở về nhập hồn trong sự tĩnh lặng đó. Tiếc thay cuộc sống hiện đại không nhiều khoảng trống cho sự tĩnh lặng đó. Chừng như cái khoảng lặng trong đêm ngón tay "cảo thơm lần giở trước đèn" đã đi qua chúng ta như một hoài niệm để nhường chỗ cho thế giới nghe nhìn cuống cuồng nhấp nhoáng và nhộn nhịp trên ti vi trên các màn hình vi tính. Các sản phẩm "mì ăn liền" đang khuyến dũ con người vào thế giới tinh thần về sự "ăn liền" rất nhạy cảm của các phản ứng. Những câu thơ ngân nga ở tầng sâu ở nơi giáp ranh của thế giới hư thực mộng mơ và huyền ảo đang dần dà bị chối bỏ. Văn hoá đại chúng thích hợp cho các sáng tạo thị trường. Thơ không thể chỉ căn cứ vào sự nghiên cứu thị trường thị hiếu mà sáng tạo. Bởi làm thế là tự thơ đã mâu thuẫn với bản chất của nó để tự đánh mất nó. Thơ có thị trường thị hiếu nhưng đó là thị trường thị hiếu có chọn lọc. Nếu người có cấp người cấp văn hoá của người thì thơ có cấp thơ cấp văn hoá của thơ. Thơ không đồng cấp quân bình với các văn hoá người mà nó ở cấp độ văn hoá cao nhất siêu việt nhất mà chúng ta có thể hình dung được. Người xưa nói đến hai từ "Cõi thơ" - Cõi thơ ngang cõi niết bàn người ơi! Không phải chúng ta thổi phồng để cao siêu hoá thơ nhưng thật khó hình dung về sự tầm thường hoá nào đó đối với nó.

Trong khi chúng ta muốn thơ đại chúng hoá để có thị trường kinh tế giúp thơ tồn tại thì cái mâu thuẫn thơ càng thơ thị trường thơ càng hẹp là không thể cưỡng lại. Cái lối sống "tử vì đạo" có vẻ đã xa xưa và lỗi thời lắm rồi lại buộc các nhà thơ chúng ta vào cuộc thể nghiệm mới: Các nhà thơ tiếp tục "uống nước lã" để làm thơ. Ở thời kinh tế thị trường tồn tại một thứ lao động rất kỳ quái là sản phẩm của thứ lao động ấy chỉ làm ra để cho không để biếu tặng. Có thứ lao động nào kỳ quái hơn lao động của các nhà thơ? Vinh quang ở đấy và bi kịch cũng là ở đấy. Song đấy cũng là một lý do để người yêu thơ phấp phỏng nỗi lo về sự tồn tại của thơ trong tương lai? Ở đây sẽ xuất hiện một quy luật mới: Không phải còn nhà thơ thì còn bạn đọc mà ngược lại còn bạn đọc sẽ còn nhà thơ Muốn "cứu" thơ (nếu có thể nói như vậy) thì trước hết phải "cứu" lấy khả năng cảm thụ thơ tình yêu thơ cái tâm thơ và cái chỉ hướng thơ ở trong bạn đọc. Nếu thơ của ngày hôm nay không níu giữ được tình yêu thơ còn sót lại trong bạn đọc thì khó có hy vọng về sự mê thơ say thơ của bạn đọc ở các thế hệ nối tiếp. Có một dấu hiệu báo động chưa chính xác lắm nhưng đã vang lên trong các truờng học là học sinh các cấp phổ thông đang chán văn chán thơ chán cái môn học nặng nề đầy lo âu trước các câu đố hóc hiểm không mấy dính dáng đến bản chất văn chương của các cuộc thi cử. Làm cho thế hệ tương lai chán văn thơ không phải là lỗi riêng của ngành giáo dục nhưng ngành giáo dục có trách nhiệm "Ông chủ" trong việc tháo gỡ vấn đề. Các nhà thơ đã lên tiếng cần lên tiếng coi việc chán văn thơ của học sinh là nỗi lo lắng nghiêm trang không chỉ của văn học mà của tâm hồn các thế hệ trẻ.

Thơ không bán được. Một tập thơ hay không bán nổi 1000 cuốn thậm chí không bán được 500 cuốn.Tôi nói thơ hay là không nói chủ quan. Nhà xuất bản Kim Đồng đã tuyển chọn khắt khe các bài thơ hay nhất của các tác giả lừng danh nhất nổi tiếng nhất của nước ta mà thơ cũng không bán hết. Bán để chịu lỗ bán với giá tiền rẻ hơn một bao thuốc vi-na một tập thơ. Nhìn tên tuổi các tác giả nhìn giá tiền nhìn sự ế sách cũng thật đau lòng: Nguyễn Trãi Nguyễn Du Hồ Xuân Hương Tản Đà Hàn Mặc Tử Xuân Diệu Chế Lan Viên Cao Bá Quát Tú Xương Tản Đà Nguyễn Khuyến Nguyễn Bính...

Rõ ràng là người ta không mua thơ không phải do không có tiền bởi giá tập thơ chỉ 5 ngàn bạc cũng không phải do thơ không hay bởi thơ đấy đã là tinh hoa của nền thơ dân tộc.Dấu hỏi "vì sao?" ở đây còn to hơn chiếc mỏ neo tàu thuỷ. Ai có thể trả lời câu hỏi đó? Sự ế thơ đồng nghĩa với sự ế ẩm của các tâm hồn. Phải chăng khái niệm "tâm hồn" chỉ là một huyền du xa xỉ của thời quá khứ? Phải chăng thơ đang lạc loài và các nhà thơ đang lạc loài không chỗ đứng ở ngày hôm nay? Tôi cũng biết rằng người yêu thơ ở nước ta đang rất đông đảo đang rất nhộn nhịp ở các câu lạc bộ phường khối xóm xã... Ngày thơ Việt Nam người về tham dự vẫn đông như hội. Lại thêm nữa hàng năm có hàng trăm hàng ngàn tập thơ được in ra. Trước những dấu hiệu nhiều người đánh giá là "rất đáng vui mừng" ấy lẽ nào tôi còn dám "khó tính" để giữ nguyên một tâm trạng khác? Tôi không muốn thơ bị tán loạn bị xuống cấp trong các nhận thức giản đơn bỗ bã theo chiều hướng tầm thường hoá đại chúng hoá của số đông. Chúng ta cần bảo toàn thơ bằng chất lượng chứ không thể bảo toàn nó bằng số lượng. Không thể nhìn vào số lượng tác phẩm để đánh giá một nền thơ cũng như không thể nhìn vào số đông nhộn nhịp để đánh giá trình độ hiểu thơ biết thơ của một dân tộc.

Trên đây là những phấp phỏng như cơn gió mang bụi bặm đường phố tạt qua tâm hồn tôi ít nhiều gây ra ở đó những lo lắng mơ hồ có thể có lý do và không lý do. Nhưng trong suy nghĩ trong nhận thức của tôi thì thơ bao giờ cũng là đại diện đáng tin cậy nhất ở vế thứ 2 trong câu nói của Gớt: Chính thơ là "cây đời mãi mãi xanh tươi".

Khi toán học chạm trán với định lý bất toàn triết học chạm trán với hố đen là lỗ thủng khoa học đã tự nhận thức về giới hạn thì thơ mãi mãi vẫn là "Triết học hồn nhiên của sự sống". Bản thân thơ không gặp vấn đề nan giải như các thể loại khác. Nó gặp khó khăn ở đối tượng nhận thức chứ không gặp khó khăn trong bản chất tư duy triết luận thể loại. Một mầm cây mọc lên một quả trứng nứt vỏ thơ đồng hành với sự sống không phải là phương tiện ngợi ca mà chính là bộ phận hữu cơ của sự sống đó. Sự sống tồn tại bằng thơ và thơ tồn tại bằng sự sống. Thơ không triết luận sự sống mà mọc lên cùng sự sống đó. Nói cách khác khi mắt người nhìn một mầm cây thì nhìn thơ mọc lên ở mầm cây đó. Mắt anh ta chạm phải thơ cùng lúc chạm phải mầm cây. Anh ta không nói được bằng thơ nhưng thơ tràn ngập tâm hồn anh ta. Muốn hay không thì thơ vẫn là phương tiện để đồng hoá con người với sự sống. Thơ vô hình vô ảnh ràng buộc con người trong cái quan hệ thiên địa nhân phi ngôn ngữ. Chúng ta cần nhận thức về cái vùng thơ phi ngôn ngữ như nhận thức ý nghĩa của từ ngữ trong dạng phi ngữ nghĩa của của mệnh đề. Cần biết cái độc lập tương đối giữa thơ và các phương tiện thơ cần sử dụng để biểu hiện chính nó. Sai số giữa thơ và ngôn ngữ thơ là điều có thật. Làm cho sai số đó hẹp lại triệt tiêu đi là tài năng của các nhà thơ. Người thơ không phải là nghề lắp ráp xác chữ xác hình mà là cái nghề có phép thần để làm cho hồn chữ hồn hình hoà đồng với xác mà dựng lên sự sống.

Triết học của sự sống chính là bản thân sự sống. Đó là triết học thơ. Sự sống bí ẩn thế nào kỳ diệu thế nào thì thơ bí ẩn thế ấy kỳ diệu thế ấy. Không có thế giới trơ hoẻn của cái đã nhận thức đã dứt điểm cũng như không có thế giới tận cùng nơi thơ đã ngự trị bằng vẻ đẹp của nó. Thế giới mở chính là thế giới bí ẩn. Khám phá bí ẩn là nhiệm vụ của sáng tạo. Bản thân thơ cũng là một bí ẩn cần khám phá. Thái độ không đầu hàng trước các bí ẩn là bản chất hùng vĩ nhất của thái độ sống. Cái đó không riêng của khoa học. Cái đó cũng gọi là thơ. Còn cuộc sống thì còn khoa học và còn thơ. Nhưng thơ không khám phá thế giới để khuôn bó nó vào các quy tắc quy luật của sự vận động mà chỉ chiêm nghiệm vẻ đẹp sinh thành của nó gắn kết sự kỳ lạ của thế giới trong tình yêu cuộc sống đến mức mê say và cảm động do thơ tạo ra. Thơ không tạo ra thế giới thực cũng không tạo ra thế giới hoàn toàn ảo. Thơ tạo ra thế giới mang vẻ đẹp hướng tới của khát vọng sống. Có thể nói khát vọng còn thì thơ còn sự sống còn thì thơ tồn tại. Nói thế tôi tin rằng không phải là ngoa ngôn hoặc nhầm lẫn. Câu hỏi thơ tồn tại hay không tồn tại "chỉ nên đáng để ý ở chỗ vì sao ở thời đại chúng ta lại nẩy sinh ra câu hỏi đó. Và đó là một câu hỏi khác. Câu hỏi này rất nghiêm trang nó là một báo động thơ báo động về nền văn minh về sự ô nhiễm môi trường văn hoá trong đời sống tinh thần của cả loài người. Thơ không thể mất nhưng nhân loại có đồng hành với cuộc sống trong cảm giác thiêng liêng và kỳ diệu của thơ hay không lại là chuyện khác.

Vinh 5/2004

Thạch quỳ

More...

Báo Lâm Đồng giới thiệu

By Nguyễn Thánh Ngã

Hôm nay 10.10 là sinh nhật NTN baolamdongonline chúc mừng bằng một bài viết của K.D

Nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã đạt giải 4 trong cuộc thi thơ "Thơ về Hà Nội" Cập nhật lúc 10:51 Thứ Tư 06/10/2010 (GMT+7) Nhân đại lễ Ngàn năm Thăng Long - Hà Nội tuần báo Văn Nghệ và Đài PTTH Hà Nội đã tổ chức cuộc thi thơ "Thơ về Hà Nội" có quy mô trong cả nước với thời gian kéo dài trong hai năm qua. Cuộc thi đã nhận được trên 20.000 bài dự thi của 2.500 tác giả ở khắp mọi miền đất nước gửi về. Nhà thơ Vũ Quần Phương - Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam - cho biết: Đây là cuộc thi thơ có quy mô lớn đề tài viết về Hà Nội với định hướng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long nên các tác giả phải "khuôn" vào đề tài và định hướng đó. Rõ ràng đó là điều không phải dễ dàng vượt qua đối với các tác giả những người làm thơ. Con số chỉ có 23 tác giả được chọn để trao giải trong số hơn 20.000 bài dự thi của 2.500 tác giả đã nói lên điều đó. 

N. vĩnh Nguyên N. Thánh Ngã MPK và N.Lễ
Ở Lâm Đồng tác giả Nguyễn Thánh Ngã là người duy nhất có thơ đạt được giải 4 của cuộc thi thơ này với chùm thơ 3 bài: "Hà Nội tinh khôi" "Trên đất Lâm Hà" và "Hà Nội". Nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã tâm sự: "Lúc đầu tôi không dám nghĩ là sẽ được giải. Bởi cuộc thi quá lớn. Tuy nhiên qua theo dõi khi biết những tác phẩm của mình lọt vào chung kết tôi bắt đầu có hy vọng! Tôi nghĩ những tác phẩm dự thi lần này tôi viết bởi một tình yêu Hà Nội đến cháy bỏng và còn là một tình yêu Lâm Hà da diết nên cảm xúc cứ dâng trào trong từng con chữ. Tôi không có ý định viết những bài thơ ấy để dự thi và đoạt giải Có điều cái gì đến là nó tự khắc đến!".

Lamdongonline xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã; và xin giới thiệu với bạn đọc chùm thơ 3 bài đoạt giải 4 của tác giả Nguyễn Thánh Ngã - người duy nhất ở Lâm Đồng đạt giải trong cuộc thi thơ "Thơ về Hà Nội" có quy mô khá lớn này!

                                                                    Khắc Dũng  

Hà Nội tinh khôi


Được thấy Hà Nội lần đầu tiên
Được chạm nước sông Hồng lần đầu tiên
Hồn tôi ngước lên tháp Bút...
Hồ Gươm như trang giấy
trầm tư

Trời xanh hòa bình
tiếng thơ chạm mây trắng nghìn xưa
Hồn tôi
đứa con miền Nam nở lệ
long lanh chiếu dời đô...

Thăng Long
Thăng Long
giấc mơ ngàn năm hóa hiện thực
giấc mơ đóng ấn lên mặt đất
cháu con chú thích cội nguồn

Được thấy Văn Miếu lần đầu tiên
Được chạm bia tiến sĩ lần đầu tiên
Rùa đá ngước lên mở mắt
người con gái yếm @ lưng ong

Tiếng ca trù trên môi em
vương đàn Đáy
lần bước cha ông tôi về !
Hà Nội ôm tôi còn để cửa
phố Phái liêu xiêu giọt đàn

Nhà chị tôi nằm sâu ngõ ngách
cúc trắng nở nghiêng sau vườn sau
Giọt sương lăn vào Hà Nội thật chậm
thật chậm
ướt chân ngày

Người con gái gánh hoa từng ngõ ngách
36 phố phường còn thương
bước chân...

Tôi thấy chị tôi đã yêu
chị yêu mùa thu và lính chiến
lá thư đảo xa còn xao xuyến nằm im bó hoa trên bàn...    

Trên đất Lâm Hà  

Về Lâm Hà
người quàng vai núi
chạm ánh mắt hồ Gươm
màu lục thủy...

Dòng Đạ Dâng như con rắn lượn
chở giàn bè trầm ru từng gié lúa củ khoai

Những hạt lúa bén rễ vách núi
quanh năm mọc trống mọc chiêng
mọc câu ca mọc hồn thi sĩ
sương móc trong veo tên đất tên làng
    Lâm có đồng
Hà có nội
đồng gieo hạt
nội gieo cái chí
tay cày tay cuốc gieo thơ

Hòn đá ngáng chân thì vấp cái tứ
rễ cây ăn sâu thì bám ý cội nguồn
rửa chân bên suối biết giữ hồn thơ trong sáng
nghe tiếng vượn kêu thì câu chữ rung động
nghe điệu chiêng trầm thì lạ hóa nhịp thơ

Tất cả
tất cả
uống men núi ủ tình rừng mà thắm
hoa cà phê nở trắng lưng đồi

Lâm Hà
nghe chiếc lá rơi
ngỡ trang sách vừa lật sang ngày đầu thế kỷ
bao nhiêu mầm xanh bao nhiêu ánh nắng
dòng sông đời người gõ nhịp tim xanh

Có người gói từ sông Hồng một nắm đất
về Lâm Hà thao thức nhớ phù sa
Sương trên lá
hay nước mắt mẹ già lăn chậm

lăn chậm
theo bước chân màu mỡ bazan...


Hà Nội


1/
Trong tôi Hà nội mới
không như lần đầu ghé môi hôn
Hà Nội mới từ những gì đã cũ
sáng nay nâu sẫm áo rùa...

2/
Lần đầu tôi đặt bước chân
nghe môi gạch ngàn năm hé mở
thoảng môi trầm
chín bậc rồng bay...

Hoa đào ơi !
biết cành nào dâng Công Chúa
vó ngựa dồn vào lục bát Nguyễn Du


Tôi đi tìm cây nào
hương nào còn thơm "năm ngoái"
gió đông cười nheo khóe thời gian...

3/
Tôi về từ phương Nam
hơn 30 năm bây giờ mới đến
từ mùa Xuân thống nhất vang rền
Hà Nội đó khuya vầng trăng Văn Miếu

Hà Nội tôi
Bây giờ tôi mới có
bây giờ mới trầm lắng trong tôi

4/
Sông Hồng kia
Tổ quốc hát từng ngày
giọng thao thức người xa quê mỗi tối

36 phố phường
36 giấc mơ
môi bún ốc em thơm cốc nước chè bà lão
đi qua Hồ Tây
mơ trâu vàng xác cáo...
mơ mình
vang nhẹ bước Hồ Gươm

5/
Còn đây đàn Đấy treo câu ả
nằng nặng lưng rùa nâng sức sống văn bia

Tôi đi là biết đi chưa hết
và biết mình chưa hiểu hết
đất nước trầm tích bóng người

Nhưng qua cầu Long Biên
khi ngồi ở ga Hàng Cỏ
nghe Hà Nội mặn môi
Tổ quốc xuân thì...                                  

                                                Nguyễn Thánh Ngã 

More...

giới thiệu chùm thơ mới nhất của NP QUẾ MAI

By Nguyễn Thánh Ngã

 

CHÙM THƠ MỚI NHẤT - NGUYỄN PHAN QUẾ MAI        

                          

BABYLIFT*

Nhấc bổng quăng vào một thế giới khác

Một xứ sở khác một vòng tay khác

Những phận trẻ thơ ngơ ngác

Da bốc khói cuộc di tản

Họ đã về. Tóc không vàng. Da không trắng. Miệng không tiếng Việt

Không bơ sữa nào có thể trả lời cho câu hỏi dài hơn 35 năm sâu hơn 12.775 ngày

"Tôi là ai?"

Không vòng tay cưu mang nào ướm vừa vòng tay cha mẹ

Không xét nghiệm DNA nào có thể nối họ với cội nguồn

Mái tóc đen không nghĩ bằng tiếng Việt

Babylift

Lật 12.775 tờ lịch bằng nước mắt

Đi qua 35 năm bằng nỗi đau

Những câu hỏi vẫn trừng trừng mở mắt.

18/4/2010

*‘Operation Babylift (Chiến dịch Không vận Cô nhi) được tiến hành rầm rộ vào những ngày cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam. Theo thông tin từ phía Mỹ hơn 3.300 em nhỏ được cho là trẻ mồ côi đã được đưa khỏi miền Nam Việt Nam hồi cuối năm 1975 và được nhận làm con nuôi ở Hoa Kỳ và một số nước khác như Australia Pháp và Canada. Tuy nhiên một số em nhỏ trong số đó hoàn toàn không phải là trẻ mồ côi.


ĐNG LC

Hoa không ngăn ni mình

chy dòng tang trng

C không ngăn ni mình

trào nm m xanh

Tôi

    bé hơn hoa

    thp hơn c

    nghiêng mình

Con gió trng

bay qua đi cát

Con gió trng hát mười bài hát: Võ Th Tn H Th Cúc Võ Th Hi Nguyn Th Xuân Dương Th Xuân Trn Th Rng Hà Th Xanh Nguyn Th NhVõ Th Trn Th Hường

Mười sui tóc mười cung đàn ngân hát

Xanh

Xanh

Xanh

Nng gió

Ngút ngàn

Mười di mm ni mt di Trường Sơn

Mười ánh mt đã thành ánh sáng

Hoa không ngăn ni mình hóa dòng tang trng

Chy v tri trong tiếng hát ch tôi.

Đng Lc tháng 3/2010


BỨC TƯỜNG CHIẾN TRANH VIỆT NAM*

Tiếng chim gõ vào Nhà Trắng

Nụ cười Lincoln âm vang

Hoàng hôn đỏ quạch Washington

Bức tường đen

58.267 cái tên không quen biết

58.267 cái tên đã nã súng vào tôi

Mũi giày họ còn loang vết máu

Tôi muốn chôn họ thêm lần nữa

Chất độc da cam rực lên màu lửa

Nguyễn Thị Kim Phúc** bốc cháy băng qua những hàng tên

Lặng câm đen

Lặng câm câu trả lời cho nghìn câu hỏi

Chợt một đóa hồng nhỏ thắp lên đau nhói

Bức thư nhòa lệ một người còn sống viết cho 1 trong 58.267 cái tên đã chết: "Cha ơi hôm nay là ngày sinh nhật con gái con. Ước gì cha ở đây để cùng cháu thổi nến mừng tuổi mới. Không ngày nào con không nghĩ đến cha. Tại sao cha ơi? Tại sao cha phải đến Việt Nam tại sao cha phải chết?"

Những cánh hồng héo quắt. Những bức thư rải thảm dưới chân tường.  Những con chữ chập chờn rỉ máu.

Tôi nghe từ trong lòng đất âm u hình thù của những người cha bế những đứa con thơ. Hốc mắt họ quầng sâu hố bom trái tim loang lổ vết đạn. Chất độc da cam đẫm vào người họ. Dòng máu chảy loang kéo trôi những đứa con đang thét gào khỏi đôi tay ...  

Từng cái tên bay

Thành từng khuôn mặt của mỗi 58.267 cái tên đã chết

Đỏ quạch Washington chiều nay

Hoàng hôn hay nước mắt?

Washington tháng 7-2007-Hà Nội tháng 6-2010

*Bức tường Chiến tranh Việt Nam là đài tưởng niệm có hình một bức tường dài 75 m cao 3 m hình chữ V bằng đá hoa cương đen khắc tên hơn 58.000 chiến binh M đã thiệt mạng hoặc mất tích khi tham gia trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Với sự thêm tên mới đây nhất của một số quân nhân vừa được xác định bức tường này hiện có tất cả 58 267  tên của các quân nhân nam nữ trong số đó có khoảng 1.200 người nằm trong danh sách quân nhân Mỹ mất tích trong Chiến tranh Việt Nam. Bức tường nằm trong Khu tưởng niệm các Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam tại trung tâm thủ đô Washington D.C. và được khánh thành ngày 13 tháng 9 năm 1982.

** Nhân vật trong tấm ảnh ""Cô bé bị bỏng bom napan" của Nick Út


QUẢNG TRỊ

Người mẹ chạy về phía chúng tôi

Tên hai đứa con tràn hai hốc mắt

Mẹ gào lên "con tôi ở đâu?"

Người mẹ chạy về phía chúng tôi

Tên chồng mẹ lõm sâu lồng ngực

Mẹ gào lên "trả chồng cho tôi!"

Nắng héo đôi vai

     xác xơ tóc trắng

Trời sập nắng kéo lê tôi trên những quãng đường

những quãng đường chi chít hố bom mắt người chết toang hoác mở

những ruộng đồng nẻ khô thoi thóp thở

Hoa phượng loang máu những con đường

Đỏ

        vết thương

                Quảng Trị

                                 (NP Quế Mai)

More...

thơ

By Nguyễn Thánh Ngã

 



HÀ NỘI TRONG TÔI DẪU MUỘN

Hà nội thơm hoa phố cổ
Hà nội heo may rét nhớ
Hà nội nắm xôi tôi cầm...

Mùa thu in trên lá sấu
Dính trong tiếng chim mới đậu
Một giàn bè trầm líu lo...

Lang thang hồ Gươm mắt ngọc
Chợt thương màu son Thê Húc
Ngập ngừng môi khẽ khàng "vâng..."

Hàng hoa chân trần xe đạp
Nón tơi che đời bão táp
Điếu cày chè đậm liêu xiêu

Xuýt xoa làn môi Trúc Bạch
Xẩm xoan đôi bờ lữ khách
Xuyến xao hỏi đường Cổ Ngư !

Hà nội trong em vẫn đượm
Hà nội trong tôi dẫu muộn
Lá bàng xòe lửa đầy tay...

                      ( Hà nội 2009)


                  Nguyễn Thánh Ngã

More...

thơ về Ngô Bảo Châu

By Nguyễn Thánh Ngã

 

NGÔ BẢO CHÂU

VIÊN NGỌC DIỆU KỲ

                             *tặng GS Ngô Bảo Châu & gia đình

Thưở ngọc trong đá

chưa ai nhìn thấy

nằm nơi xó xỉnh nào

Hòn đá ấy

đã bị chiến tranh bào mòn

bị bức tường đập vỡ

nằm nơi chân cột bờ giậu

Khi chân cột xê đi

viên ngọc lăn lóc

và cơn lũ cuốn về đại dương xanh thẳm

Giữa rừng san hô đa sắc màu

những viên ngọc vĩ đại tỏa sáng

viên ngọc nhỏ bé kia có thể làm gì !

Nhưng lóe sáng là bản chất của ngọc quý

viên ngọc quý lung linh cội nguồn

đã bật lên khi đại dương tăm tối

lấy nhỏ bé làm sức mạnh

lấy khó khăn làm mài dũa

dưới ánh mặt trời mọi vật đều có thể bay lên

Viên ngọc Ngô Bảo Châu đã bay lên trên ý nghĩ siêu tưởng

bầu trời toán học đã mở

thế giới vỡ ra bổ đề cơ bản

cơ bản siêu tưởng con người

Con người không còn là con số

con người là tương lai

tương lai vạm vỡ giữa những phức tạp...

Tỏa sáng viên ngọc trong đá nơi xó xỉnh nào

thành tỏa sáng những hy vọng cho thế giới mới

Nhưng Ngô Bảo Châu - viên ngọc lung linh cội nguồn

vẫn sáng về nơi chân cột bờ giậu

nơi mình đã ra đi

bởi quê hương là kho báu thầm lặng

quê hương cất giữ những viên ngọc quý

Và viên ngọc Ngô Bảo Châu
đã tỏa sáng

một cách diệu kỳ giữa thế giới lộng lẫy

viên ngọc đỉnh cao của thế giới rộng mở

bằng tư tưởng Việt Nam !

                 Lâm Hà mùa thu 2010

                 Nguyễn Thánh Ngã

More...

tạp bút

By Nguyễn Thánh Ngã


Tạp bút


PHẢN CẢM MÚA LÂN TRUNG THU

Mỗi độ thu về ánh trăng rằm tuổi thơ lại vằng vặc chiếu sáng trên bầu trời. Thiếu nhi nô nức đón Trung thu nào là bánh kẹo nào là đèn đóm nào là múa lân vv...Tiếng trống ếch trống cơm thúc giục trẻ thơ rước đèn. Niềm vui đón trăng là nét đẹp văn hóa không thể thiếu của nhiều nước Á Đông. Nước ta hòa bình độc lập niềm vui lại rộn ràng hơn ; không những thiếu nhi đón trăng mà cả người lớn  khắp tỉnh thành đến thôn quê cũng hòa trong không khí đón trăng tưng bừng. Họ dành cho trẻ em nhiều niềm vui hơn nhờ kinh tế phát triển.Trong đó có đội múa lân là đáng kể nhất vì tiếng trống rộn ràng của nó đem đến cho nhà nhà may mắn theo quan niệm xưa cũng như nay. Tuy nhiên việc lợi dụng lập đội lân để trục lợi lại là vấn đề gây phản cảm cho mọi người. Giữa ánh trăng rằm tỏa sáng lồng lộng đất trời tâm con người lại hướng về cái lợi vật chất mà quên đi nét văn hóa trong truyền thống Việt là đem lại niềm vui tinh thần. Dĩ nhiên phần vật chất là yếu tố quan trọng nhưng nó phải  "vừa đủ" để cân bằng giữa vật chất và niềm vui tinh thần cho đông đảo quần chúng. Đằng này những đội lân "dỏm" ngày càng gây bất bình trong dư luận. Thôn thôn xóm xóm lập đội lân; tổ phường lập đội lân; tổ chức này tổ chức nọ lập đội lân. Chỉ cần thuê vài ba người đội đầu lân múa may là có thể đi xin tiền. Điều đó gây tác hại không ít cho niềm vui trong sáng của các em thiếu nhi. Không ai bảo ai vậy mà nhiều thiếu nhi "choai choai" ở các tổ xóm thôn chỉ cần một số tiền nhỏ là có thể mua đầu lân tập luyện kiểu xin tiền "triệt buộc" chủ nhân một cách thiếu văn hóa. Tôi đã từng chứng kiến nhiều đội lân "dỏm " xuất hiện khắp nơi kể từ đầu tháng Tám Âm lịch múa may chận xe dọc đường "xin đểu". Nhiều đội lân có ông địa tề thiên lỳ lợm xông thẳng vào nhà vào quán...thậm chí là vào buồng riêng vv...kéo tay kéo chân chủ nhà xin cho được mới thôi. Nếu bị từ chối thì thúc trống ầm ĩ không đi. Có khi còn phải xem tiền cho ít hay nhiều mới đi nữa chứ ?! Vài năm trở lại đây các tệ nạn phân chia vùng miền địa bàn kiếm ăn của các đội lân "dỏm" đã xảy ra xô xát đánh nhau gây đổ máu không ít. Bởi vậy chúng ta đừng hỏi tại sao nhiều người quay lưng lại với múa lân. Nhiều nhà nhiều cửa tiệm đóng cửa không tiếp lân ?! Bởi ai cũng sợ đội lân " dỏm " cứ năm ba phút lại đến đã không tạo được niềm vui trong sự quý mến của gia chủ mà lại còn gây cản trở trong việc làm ăn. Họ sợ là phải thôi !


   Tóm lại trắng trợn và thiếu văn hóa vì tiền chứ không vì niềm vui của các em thiếu nhi là những gì có thể nói về những đội lân "dỏm trò" này. Tôi vẫn biết có những đội lân chân chính phục vụ cho nghệ thuật múa lân của đất nước hay những đội lân nhỏ mà mang niềm vui lớn. Niềm vui " thứ thiệt " cho thiếu nhi và cho mọi người thì rất đáng khâm phục rất đáng tự hào và rất đáng khuyến khích. Vì thế đề nghị những cơ quan có chức năng và có thẩm quyền nên có một kế hoạch cho từng đội lân ở từng vùng miền từng địa bàn dân cư. Và việc kiểm tra rà soát để loại bỏ những " con sói đội lốt lân " là một việc làm cần thiết cho vầng trăng rằm của thiếu nhi mãi mãi trong sáng không hề dính bụi bẩn của những kẻ lợi dụng bất chính. Và những mùa Trung thu tiếp theo sẽ không còn phản cảm. Múa lân chân chính sẽ ánh lên nét thanh bình của một xứ sở thần tiên - xứ sở của những công dân chủ nhân tương lai của đất nước.

                                                      Nguyễn Thánh Ngã

More...

thơ

By Nguyễn Thánh Ngã



MƯỜNG TƯỢNG VOZNHEXENXKI (1)


Nghe chỉ là mường tượng
"Văn là người" cũng chỉ là mường tượng
Một Voznhexenxki của nước Nga Xô Viết tôi từng yêu mến
Vì thơ ông là một phần bí ẩn của cuộc đời nầy

Tôi đã nhìn thấy ông mỉm cười
Khi ngước lên sa mạc Gobi
một linh hồn thiên nga tỏa sáng

Tôi chưa nghe một lời opera nào
Nhưng Triệu Bông Hồng đã bừng trong trái tim tôi một thời trẻ dại
Tôi đọc ông & thầm cảm ơn Bác sĩ Jivago-Paxternak (2)
đã nhìn thấy trong ông một "căn bệnh xuất thần "
Loại bệnh mà chính thể Khơrutsop sợ đến run người
Ấy là bệnh tư tưởng tự do trong sáng tạo của nhân loại...

Khơrutsop đã từng thét lên :" hãy cút khỏi đất nước này" (3)
Mỉa mai thay
căn bệnh ấy đã bùng phát thành Quả Lê hình tam giác (4)
cứu rỗi nhiều tâm hồn trên đất Mỹ yêu thơ !

Vì vậy nếu bạn bị một Khơrutsop bản địa đuổi ra khỏi nhà
Thì đừng lo nếu bạn là Plixetskaia (5)
Hãy múa lên vũ điệu huyền diệu của chính mình
Hay của  chính Hồ Thiên nga - Traicovski trong tâm hồn bạn

Bạn sẽ được mường tượng
Như tôi đang mường tượng Voznhexenxki
một hồn thơ lạ lùng & độc đáo đến từng con chữ & thân phận !

Thương ông ra đi về miền tuyết băng
Nhưng những câu thơ nhiệt đới còn ấm lòng bao thế kỷ
Và tôi tin
những thế kỷ xích lại gần nhau

Thế kỷ sẽ không còn mường tượng bởi tư duy địa lý
Thế kỷ sẽ không còn mường tượng bởi cách ngăn ngôn ngữ
thế kỷ tôi đã đọc Voznhexenxki...
bởi một lẽ ông là cái bóng của thanh âm (6)

                                     Nguyễn Thánh Ngã

(1) Nhà thơ lớn của nước Nga vừa từ trần 1.6.2010 tại Mạc- tư- khoa thọ 77 tuổi
(2) Bác sĩ Jivago là tiểu thuyết đạt giải Nobel của Paxternak cha đỡ đầu thi ca của Voznhexenxki
(3) Khơrutsop muốn đuổi nhà thơ ra khỏi nước Nga nhưng nhờ Kennedy dàn xếp êm xuôi
(4)trường ca nổi tiếng trên đất Mỹ của Voznhexenxki
(5) nữ nghệ sĩ múa Bale của nước Nga được Voznhexenxki ca ngợi bằng tập thơ Chân dung Plixetskaia
(6)tác phẩm của Voznhexenxki

More...